CHƯƠNG I LÝ LUẬN CƠ BAN YE MARKETING 7 Trang 1.1 MARKETING VA VAI TRÒ CUA NÓ 1.1 Khai niém marketing Kể từ khi xuất hiện từ những năm đầu của thé ky XX, thuật ngữ marketing đã có nhiều cách giải thích, nhiều khái niệm khác nhau. Tuy nhiên, có thể chia làm hai định nghĩa đại diện cho marketing truyền thống và marketing hiện đại Marketing truyền thống: bao gồm các hoạt động sản xuất kinh doanh liên quan đến việc hướng dòng sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ từ nhà sản xuất đến người tiêu thụ một cách tối ưu Marketing hiện đại là hoạt động của con người nhằm hướng dẫn việc thỏa mãn các nhu câu, mong muốn thông qua trao đổi hàng hóa Như vậy tư tưởng chủ đạo của marketing trong quá trình sản xuất kinh doanh là khám phá nhu cầu của khách hàng một cách triệt để nhằm cung ứng hàng hóa phù hợp, thỏa mãn cao nhất nhu cầu của khách hàng, chỉ bán cái gì khách hàng cần chứ không phải bán cái gì mà nhà san xuất kinh doanh có sẵn.2 Vai trò của marketing Đối với doanh nghiệp Marketing giúp cho doanh nghiệp có thể tổn tại lâu dài và vững chắc trên thị trường do nó cung cấp khả năng thích ứng với những thay đổi của thị trường và môi trường bên ngoài. Thành công của một doanh nghiệp phụ thuộc vào việc họ có cung cấp đúng với nhu cầu thụ trường, phù hợp với mong muốn và khả năng mua của người tiêu dùng hay không. Marketing là chức năng quản trị quan trọng của daonh nghiệp, nó đóng vai trò định hướng, kết nối các chức năng khác như sản xuất, bán hàng, tài chính,.
theo chiến lược để ra. § Trang Hoạt động marketing giúp cải tiến và hoàn thiện hình ảnh, chất lượng, vị thế cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp. Từ đó làm tăng giá trị hữu hình và đặc biệt là giá trị vô hình của sản phẩm, góp phần đẩy mạnh doanh số bán hàng và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hoạt động marketing không những xây dựng hình ảnh cho sản phẩm của doanh nghiệp mà còn góp phần xây dựng, khẳng định hình ảnh, tên tuổi của doanh nghiệp trên thương trường.
Chiến lược marketing đúng đắn sẽ là kim chỉ nam cho các chiến lược khác của công ty, đưa công ty tiến đến mục tiêu hoạch định một cách hiệu quả nhất trong sự phối hợp nhịp nhàng tổng thể hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra, chiến lược marketing cũng góp phần định hướng cho việc hoạch định chiến lược lâu dài của doanh nghiệp. Đối với người tiêu dùng Marketing giúp khâu sản xuất tạo ra được những đặc tính hữu ích cho sản phẩm, thỏa mãn triệt để nhu cầu của người tiêu dùng. Marketing hoàn thiện kênh phân phối giúp sản phẩm sẵn sàng ở mọi lúc, mọi nơi, người tiêu dùng có thể dé dàng tìm thấy sản phẩm khi có nhu cau.
Marketing cung cấp những thông điệp quảng cáo nhằm cung cấp thông tin cho người tiêu dùng về đặc tinh ưu việt của sản phẩm. Đối với xã hội Hoạt động marketing giúp nâng cao phúc lợi xã hội của một quốc gia khi mà nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng thỏa mãn triệt dé, nâng cao mức sống của xã hội, nâng cao hiệu quả của khâu bán sỉ, bán lẻ, vận chuyển, kho bãi,. 9 Trang Hoạt động marketing thúc đẩy sự năng động của doanh nghiệp nhằm nâng cao vị thế cạnh tranh của sản phẩm doanh nghiệp ở thị trường trong nước cũng như quốc tế, do đó cũng góp phan thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất nước.2 NGHIÊN CỨU MARKETING 1.1 Phân tích thị trường Các quyết định marketing phải xuất phát từ những đòi hỏi khách quan của thị trường. Do đó, cần phải phân tích thị trường bao gồm phân tích quy mô, cơ cấu, sự vận động và các đặc điểm hành vi của thị trường nhằm xác định được thị phần tương đối của từng đối thủ cạnh tranh, xác định thị trường được chia thành các bộ phận như thế nào và thị trường tăng trưởng hay suy thoái.
Khách hàng là đối tượng của các hoạt động marketing cần phải được nghiên cứu kỹ vé tất cả mọi mặt của hành vi người tiêu dùng, biết được những suy nghĩ và hành động của người tiêu dùng để có các biện pháp marketing tác động vào họ để họ chọn mua sin phẩm của công ty.1 Phân tích các yếu tố thuộc môi trường vi mô Đây chính là nghiên cứu các đơn vị mà hoạt động của họ có ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường và hoạt động marketing của công ty như: A. Các nhà cung cấp Công ty phải phân tích được tiềm lực, năng lực, sức mạnh, điểm yếu, mục tiêu, chiến lược của từng nhà cung cấp để lựa chọn được nhà cung cấp tối ưu cho mình. Công ty phải tính được ảnh hưởng của các nhà cung cấp đến hoạt động kinh doanh của mình và đưa ra được tiêu chuẩn để lựa chọn nhà cung cấp. Các đối thủ cạnh tranh Đối thủ cạnh tranh bao gồm trước hết là các công ty khác trong cùng ngành cạnh tranh với công ty về cả nguôn lực lẫn doanh số bán.
Công ty trước hết phải phân 10 Trang tích được cấu trúc cạnh tranh trong ngành. Thông thường đối với một sản phẩm công ty phải xác định được 4 cấp độ cạnh tranh sau: " Canh tranh giữa các nhãn hiệu: Day là sự cạnh tranh giữa những sản phẩm cùng loại, cùng đáp ứng cho một nhu cầu, có hình thức sản phẩm giống nhau, chỉ khác nhau tên gọi, nhãn hiệu. Đây là cấp độ cạnh tranh trực tiếp nhất. " Cạnh tranh về hình thức sản phẩm: Đây là sự cạnh tranh giữa các sản phẩm cùng loại, cùng thoả mãn một loại nhu cầu của người tiêu dùng nhưng có hình thức khác nhau như chất lượng, kiểu dáng, thuộc tính khác nhau "_ Cạnh tranh giữa những sản phẩm thay thế: Đây là các sản phẩm khác loại nhau nhưng có thể thay thế cho nhau để thoả mãn một nhu cầu của người tiêu dùng.
Đây chính là sự đe dọa một ngành kinh doanh sản phẩm từ những ngành kinh doanh khác có thể thay thế. Đôi khi cấp độ cạnh tranh này lại là cấp độ cạnh tranh quan trọng nhất của công ty phải đối phó. " Cạnh tranh giữa các nhu cầu: Do tổng số chỉ tiêu của xã hội là một con số xác định vì vậy khi nhu cầu này tăng lên nhu cầu khác sẽ bị giảm sút. Day là cấp độ cạnh tranh rộng nhất.
Công ty phải phân tích được các đối thủ cạnh tranh về các mặt như sức mạnh, điểm yếu, mục tiêu, nguồn lực, chiến lược marketing.Ngoài ra, công ty cũng phải xác định những đối thủ cạnh tranh trực tiếp, đối thủ cạnh tranh tiềm tàng,. Thông thường các đối thủ cạnh tranh có chiến lược tương tự như công ty là đối thủ trực tiếp và nguy hiểm nhất. Có thể tận dụng thời cơ trong phân tích đối thủ cạnh tranh như: Có thể sát nhập hay liên kết được với các đối thủ cạnh tranh trong ngành để đưa ra được những giá trị có sức thuyết phục đối với người tiêu dùng. Trong một số trường hợp, có thể lái những người cạnh tranh rời khỏi ngành.
11 Trang Ví dụ, một công ty hàng không có thể mua một công ty hàng không khác để tăng sức mạnh cạnh tranh. Một của hàng thực phẩm sử dụng chiến lược hạ giá hàng ngày mà người cạnh tranh không thể theo được. Các trung gian marketing Các trung gian marketing bao gồm các nhà bán buôn, bán lẻ, các tổ chức dịch vụ như tư vấn, nghiên cứu marketing, ngân hàng ,công ty tài chính bảo hiểm.tham gia vào quá trình marketing của công ty, giúp công ty tìm kiếm khách hàng và tiêu thụ sản phẩm. Công ty phải nghiên cứu kỹ về các trung gian để có lựa chọn và sử dụng họ tốt nhất trong hệ thống marketing của mình trên thị trường.
Công ty cần phải phát triển các tiêu chuẩn lựa chọn trung gian marketing thích hợp. Các phương tiện thông tin đại chúng, các tổ chức xã hội. Các hoạt động marketing của công ty phải nghiên cứu các tổ chức này để tìm kiếm sự ủng hộ và sử dụng họ trong hoạt động xúc tiến trên thị trường cho các hoạt động ảnh hưởng đến dư luận như vận động ủng hộ.2 Phân tích các yếu tố thuộc về môi trường vĩ mô Những yếu tố vĩ mô bao gồm kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hoá, xã hội.Đây là các yếu tố và lực lượng có ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các công ty tham gia vào thị trường, chúng tổn tại hoàn toàn khách quan nằm ngoài sự kiểm soát của các công ty. Trong phân tích môi trường này, cân phải nghiên cứu cả thời cơ và nguy cơ đối với khả năng đạt mục tiêu.
Thời cơ marketing thường xuất hiện khi những thay đổi trong môi trường đem lại những nhu cầu mới cần được thoả mãn. Nguy cơ có thể là sự khan hiếm các nguồn lực, nhu câu giẩm sút hay cạnh tranh quyết liệt. Môi trường kinh tế 12 Trang Nên kinh tế và sự thay đổi mà nó cũng mang lại các thời cơ và nguy cơ marketing. Ví dụ, các nhân tố như mức lạm phát và thất nghiệp cao có thể hạn chế quy mô của thị trường và có thể ảnh hưởng đến việc mua sắm các sản phẩm cao cấp.
Nhưng trong cùng thời kỳ, các nhân tố này có thể tạo ra thời cơ thuận lợi để phát triển các dịch vụ cho thuê đối với những sản phẩm cao cấp hoặc phải phát triển các loại sản phẩm giá rẻ hơn. Môi trường văn hoá xã hội Các giá trị này thay đổi chậm, nhưng khi chúng thay đổi thường đem lại nhu cầu về các sản phẩm và dịch vụ mới. Ví dụ: Sự thay đổi quan điểm về sự bền vững của các gia đình lớn đưa lại cơ hội phát triển các phương pháp sinh đẻ kế hoạch tốt hơn. Ngược lại các giá trị văn hoá xã hội cũng tạo ra giới hạn cho các hoạt động marketing.
Vi dụ: Nhu câu xã hội trong bảo vệ môi trường đã làm chính phủ một số nước yêu cầu tất cả các loại 6 tô san xuất ra phải có mức tiêu thụ xăng thấp và khí thai ít. Môi trường chính trị - luật pháp Môi trường chính trị bao gồm quan điểm, thể chế chính trị, hệ thống quản lý vĩ mô và các phan ứng của các tổ chức xã hội, quần chúng và các tổ chức khác. Các yếu tố này hoạt động gây ảnh hưởng đến điều kiện kinh doanh, hình ảnh của các công ty và lòng trung thành của người tiêu dùng. Do đó, các yếu tố chính trị thường tạo nên sự ổn định hay biến động của thị trường.