Chương 1: Một số vấn dé chung về khu kinh tế cửa khẩu biên giới. Chương 2: Quá trình hình thành và phát triển khu KTCKBG ở Lạng Sơn. Chương 3: Một số quan điểm và giải pháp nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới ở Lạng Sơn. CAC THUAT NGU VIET TAT KTCKBG Kinh tế cửa khẩu biên giới PCLDXH Phân công lao động xã hội KCX Khu chế xuất CNH, HDH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa XNK Xuất nhập khẩu LLSS Lực lượng sản xuất GDP Tổng sản phẩm quốc dân XK Xuất khẩu CHUONG | MOT SO VAN DE CHUNG VE KHU KINH TE CUA KHAU BIEN GIGI 1.
KHÁI LUẬN VỀ KHU KINH TE CUA KHẨU BIEN GIỚI. Để nghiên cứu cơ sở lý luận của việc hình thành khu kinh tế cửa khẩu biên giới (KKTCKBG), trước hết cần hiểu rõ một số khái niệm liên quan sau đây: * Cửa khẩu: Là một địa điểm trên đường giao thông hoặc đầu mối giao thông ở biên giới hay trong nội địa, được nhà nước quy định làm nơi xuất khẩu, nhập khẩu hay quá cảnh. Với khái niệm trên, ta thấy cửa khẩu có một vị trí rất quan trọng. Thông qua cửa khẩu việc, trao đổi hàng hoá và giao lưu quốc tế được thực hiện, phục vụ tốt cho việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế của đất nước.
Cửa khẩu được chia thành hai loại : cửa khẩu nội địa (như sân bay quốc tế ), cửa khẩu biên giới (bao gồm biên giới đường bộ, đường sông và đường biển ). * Khu kính tế. Là một thể thống nhất sản xuất địa phương chuyên nghiệp hoá có ý nghĩa toàn quốc, lấy thành phố lớn và vừa làm trung tâm. Là hình thức thực hiện sự PCLĐXH ở địa phương với điều kiện sau khi nền kinh tế hàng hoá phát triển đến một giai đoạn nhất định, sản xuất ngày càng được xã hội hoá , khu vực hoá.
Căn cứ vào đặc điểm chức năng và cơ cấu khu kinh tế, khu kinh tế có thể chia thành hai loại hình là khu kinh tế ngành và khu kinh tế tổng hợp. Khái niệm khu kinh tế cho thấy trước hết đó phải là một vùng lãnh thổ đặc thù, có khả năng hoàn chỉnh về mặt kinh tế. Các đặc điểm về kinh tế - văn hoá - xã hội ở đó phải làm cho khu kinh tế trở thành một trong những mắt xích của nền kinh tế quốc dân. * Khu kinh tế cửa khẩu biên giới: Cho đến nay ở nước ta chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh về khu KTCKBG.
Ở Trung Quốc khái niệm này dưới thuật ngữ “Duyên biên khai phóng “ được hiểu như sau: đó là khu vực thuộc vùng biên giới nội địa có ưu thế về địa lý tự nhiên , tài nguyên phong phú , lấy sự phát triển mậu dịch biên giới làm khởi điểm, lấy những thành thị công nghiệp nội địa phát triển làm chỗ dựa. Lợi dụng triệt để nhiều hình thức mậu dịch kinh tế đối ngoại, cải thiện cơ cấu kinh tế, sáng tạo hoàn cảnh đầu tư, thúc đẩy giao lưu hai chiều [ 12;32 ]. Qua tham khảo các khái niệm trên và các mô hình kinh tế cửa khẩu ở các nước, khái niệm khu KTCKBG có thể được hiểu như sau: Là một đơn vị kinh tế thuộc khu vực cửa khẩu biên giới nội địa có nhiều ưu thế về địa lý tự nhiên, là nơi giao lưu giữa kinh tế trong và ngoài nước, trong đó các hoạt động thương mại phát triển mạnh và làm chỗ dựa để phát triển mối quan hệ kinh tế đối ngoại, tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế. Khu KTCKBG phải do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập với hệ thống các chính sách ưu đãi thông thoáng.
Như vậy khu KTCKBG có thể coi là một bước đột phá vào tình trạng kinh tế đóng cửa, lạc hậu của các tỉnh vùng biên cương nội địa nhằm khai thác những tiềm năng sắn có của vùng này, để phát triển và thu hút đầu tư. Nhờ đó mà đẩy mạnh sự phát triển kinh tế vùng biên giới và phụ cận, từng bước đưa nền kinh tế đất nước bước vào nền kinh tế thị trường hiện đại. Trong quá trình hội nhập để phát triển ,các quốc gia trên thế giới đã xây dựng được nhiều hình thức hợp tác phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và trình độ kỹ thuật, quản lý. Đó là những hình thức khu chế xuất(KCX), khu công nghiệp,đặc khu kinh tế, khu thương mại tự do.
Giữa các hình thức này xét đưới góc độ nào đó có những nét tương đồng với khu KTCKBG. Để hiểu thêm về vấn đề này , hãy xem xét một số khái niệm sau: * Khu công nghiệp: Là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp , có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được hưởng một số chế Nn độ ưu tiên nhất định của Chính phủ hay của địa phương, do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập.[43] *Khu chế xuất: Là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới xác định ,không có dân cư sinh sống, được hưởng một số chế độ ưu tiên đặc biệt của chính phủ. Do chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết định thành lập. Như vậy khu chế xuất có thể được coi như một tổ hợp các hoạt động thương mai và công nghiệp được ưu đãi thuế quan.
*Khu thương mại tu do: La một khu vực trong một nước mà tại đó hang hoá nước ngoài nhập vào khu được miễn thuế quan. Hàng hoá có thể tự do cất trữ, phân loại, phân cấp, tháo dỡ, chế biến, chế tạo, đóng gói lại, thay đổi nhãn hiệu, lắp ráp hoặc tái xuất khẩu mà không phải chịu sự giám sát quản lý của hải quan. Chỉ khi nào hàng hóa nhập khẩu rời khỏi khu thương mại tự do để vào nước sở tại, khi đó hàng hoá phải làm thủ tục hải quan nhằm nộp thuế nhập khẩu. * Đặc khu kinh tế: Theo luật về đặc khu kinh tế Philippin năm 1995 thì khái niệm đặc khu kinh tế được hiểu như sau: là vùng được lựa chọn với sự phát triển cao hay có tiềm năng phát triển thành các trung tam công - nông nghiệp, du lịch giải trí, thương mại, ngân hàng, tài chính.
Một đặc khu kinh tế có thể bao gồm bất cứ hay tất cả khu công nghiệp, khu chế xuất, khu thương mại tự do và các trung tâm du lịch, giải trí và ở đó người ta thiết lập một chế độ ưu tiên riêng biệt về thuế và quan lý theo quy định của Chính phủ. Qua xem xét những khái niệm trên ta thấy khu KTCKBG có những điểm tương đồng với các hình thức trên ở chỗ: sự có mặt của chúng trong đời sống kinh tế đều phản ánh trình độ chuyên môn hoá sản xuất sâu sắc, sự phát triển của PCLĐ quốc tế và xu hướng tự do hoá thương mại. Sự hình thành của chúng đều nhằm mục đích thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển các hoạt động thương mại để phát triển nền kinh tế và phải do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định. Tuy nhiên khu KTCKBG có những nét khác biệt so với các hình thức khu chế xuất, khu công nghiệp, khu thương mại tự do ở một số điểm như trong các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu thương mại tự do không có dân cư sinh sống và ranh giới giữa các khu vực này với bên ngoài được ngăn cách bởi một hàng rào cứng , có cổng và cửa ra vào riêng.
Điểm này không có ở trong khu KTCKBG và đặc khu kinh tế. Xét dưới góc độ khác việc quy hoạch các khu chức năng giữa khu KTCKBG và đặc khu kinh tế có nhiều nét giống nhau. So sánh bảng 1 và 2. Bảng 1: Định hướng phát triển không gian khu KTCKBG Mộc Bài - Tây Ninh Diễn giải Diện tích(ha) Trong đó khu dân cư nông thôn Hệ thống khu cửa khẩu Trong đó: - Cửa khẩu chính (Mộc Bài) 5 - Hai cửa khẩu phụ (Long Thuận và Phước Chỉ) 2 L2.
[Khu trung tâm thương mại 50 Trong đó: - Trung tâm thương mại quốc tế 23 - Kho ngoại quan và chợ biên giới 10 - Các cửa hàng dịch vụ, thương mại, văn phòng đại diện, | khách san 15 3 | Khu công nghiệp 55 Các công trình văn hoá xã hội 170,4 Vùng nông-lâm nghiệp và rừng bảo tồn sinh thái Trong đó: - Vùng nông nghiệp 16000 - Rừng phòng hộ dọc biên giới 1000 - Rừng bảo tồn sinh thái và du lịch Tổng cộng 18887,4 Nguồn: Quyết định 105/1999 QD-TTg ngày 16/4/1999 của Thủ tướng Chính phú. 7 Bảng 2: Kế hoạch phát triển đặc khu kinh tế Tham Quyến - Tr ung Quốc. Cac ving xi 2 Diện tích có th é (tại các quận Chức năng chính sử dụng (ha) khác Tản mi —¬ - Du lịch. 172 Vùng phía | - Thuỷ sản, nông nghiệp và công nghiệp.
578 Đông - Thương mại và nhà ở. 200 - Thương mại, công nghiệp địa phương. 400 - Du lịch địa phương. 440 - Công nghiệp du lịch và kho bãi.
1000 - Phát triển tổng hợp. ont al 3000 he Phát triển tổng hop. 600 Vùng trung | - Du lịch. 210 tâm - Nghiên cứu khoa học.
400 - Công nghiệp nặng. 1430 - Phát triển tổng hợp. 600 Các vùng | - Giáo dục và du lịch. phía Tây | - Công nghiệp và phát triển tổng hợp.
Vguồn: Luận văn PTS kinh tế- Nguyễn Xuân Sơn - Viện Kinh tế 3ang 1 và 2 cho thấy trong định hướng phát triển không gian, cả kh u KTCKBG rà đặc khu kinh tế đều có sự phân khu với những chức năng hoạt động tương tự thau như: khu đô thị, khu dân cư, khu thương mại, khu du lịch, khu công qghiệp.Do vậy có thể coi như khu KTCKBG là sự khởi đâu, là cơ sở để dan hát triển lên thành các đặc khu kinh tế. Qua việc nghiên cứu khái ni ệm khu ‘TCKBG, có thé thấy khu KTCKBG là khu kinh tế tổng hợp ba o gồm những oạt động đặc trưng như: - Hoạt động thương mại : bao gồm cả xuất - nhập khẩu hàng hoá , phan phối, bán lẻ, tạm nhập, chuyển khẩu hoặc tái xuất khẩu hàng hóa. - Hoạt động dịch vụ thương mại : gồm các hoạt động phân loại, đóng gói, bảo quản, kho tàng, bưu chính viễn thông, bảo hiểm, thủ tục hải quan, cửa hàng giới thiệu sản phẩm, tổ chức hội chợ, triển lãm, cho thuê văn phòng giao dich .