CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU Để tìm ra khe hổng nghiên cứu, trong chương này tác giả tổng hợp các nghiên cứu theo các dòng nghiên cứu. Cụ thể chương này sẽ trình bày tóm tắt các bài nghiên cứu liên quan ngoài nước cũng như trong nước. Các nghiên cứu nước ngoài.
Tổng hợp các nghiên cứu có liên quan đến chất lượng hệ thống thông tin và sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ (TTF) Mô hình hệ thống thông tin thành công Delone và McLean (D&M) là mô hình được trích dẫn nhiều nhất để đo lường mức độ sử dụng của các hệ thống tin và sự hài lòng của người dùng (Costa và cộng sự, 2016). Mô hình xác định các yếu tố thành công quan trọng thúc đẩy thành công của hệ thống thông tin và cung cấp hướng dẫn đo lường và đánh giá cho các học giả. Mô hình được công bố lần đầu vào năm 1992. Sau đó, có những đề xuất điều chỉnh mô hình (Seddon, 1997).
Tác giả cập nhật phiên bản mới bằng cách thêm thành phần chất lượng dịch vụ vào ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU mô hình (DeLone và McLean, 2003).1: Mô hình hệ thống thông tin thành công (DeLone và McLean, 2003) Thị trường thường biến đổi nhanh chóng nhu cầu về thông tin, công nghệ … ngày càng gia tăng. Để đáp ứng những phản hồi ấy hệ thống thông tin cần được nâng cấp và cập nhật thêm những yếu tố mới. Từ ý tưởng đó, Delone và McLean đã tiếp tục cập nhật phiên bản mới lần thứ 2 bằng cách thêm các tác động mới đến từ sự phản 9 hồi: việc sử dụng hệ thống và sự thỏa mãn của người sử dụng tác động ngược trở lại chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin và chất lượng dịch vụ. Đồng thời tác giả mở rộng thước đo điểm cuối của hệ thống thông tin thành công bằng cách: thay biến “lơi ích thuần” bằng “ tác động thuần”.
Theo sự tìm hiểu cảu tác giả có rất nhiều dòng nghiên cứu khác nhau dựa trên nền tảng mô hình hệ thống thông tin thành công của Delone và McLean. Tuy nhiên, trong phần này tác giả chỉ tập trung vào dòng nghiên cứu kết hợp mô hình hệ thống thông tin thành công Delone và McLean và TTF để làm rõ các vấn đề mà các tác giả trước nghiên cứu. Từ đó có thể xác định khe hổng nghiên cứu cho đề tài này. Tiếp theo, tác giả trình bày một số nghiên cứu theo dòng nghiên cứu này.
Để đánh giá tác động của ứng dụng ngân hàng qua điện thoại đối với hiệu suất từng cá nhân, Tam và Oliveira (2016) đã đề xuất mô hình kết hợp giữa mô hình HTTT thành công của Delone và McLean (D&M) và mô hình sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ (TTF). Tác giả đặt ra giả thuyết nghiên cứu: chất lượng hệ thống, chất ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU lượng thông tin và chất lượng dịch vụ đều tác động cùng chiều đến sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ; Sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ có vai trò là biến điều tiết trong mối quan hệ việc sử dụng hoặc sự hài lòng của người dùng và hiệu suất cá nhân. Bằng công cụ kỹ thuật SEM và PLS tác giả đã tìm thấy: Việc sử dụng và sự hài lòng của người dùng là tiền lệ quan trọng của hiệu suất cá nhân và khẳng định tầm quan trọng của các tác động điều tiết của TTF trong mối quan hệ giữa việc sử dụng đối và hiệu suất của từng cá nhân; Chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin và chất lượng dịch vụ tác động cùng chiều đến sự hài lòng của người dùng. Ngoài ra chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin cũng tác động đáng kể đến sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ.
Như vậy, Tam và Oliveira (2016) đã phát hiện rằng: chất lượng hệ thống và chất lượng thông tin tác động đáng kể đến TTF và TTF tác động tới hiệu suất cá nhân nhiều hơn hành vi sử dụng. Trong bối cảnh hệ thống hoạch định nguồn nhân lực đám mây (ERP), nghiên cứu của Cheng (2018) đã xây dựng một mô hình lai dựa trên: mô hình xác nhận kỳ vọng 10 (ECM), mô hình thành công của Delone và McLean HTTT (D&M) và mô hình sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ (TTF) để kiểm tra xem các yếu tố chất lượng và TTF có phải là tiền đề đối với niềm tin của ý định người dùng tiếp tục sử dụng. Bằng công cụ SPSS 8.0, với kỹ thuật phân tích nhân tố CFA để phát triển thang đo và mô hình SEM để kiểm tra các mối liên kết trong cấu trúc, nghiên cứu này phát hiện ra rằng người dùng nhận thức về chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin và TTF đều đóng góp đáng kể vào sự hài lòng, xác nhận và nhận thấy sự hữu ích của họ đối với ERP đám mây, từ đó trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến ý định tiếp tục sử dụng của họ. Cụ thể, kết quả nghiên cứu đã hỗ trợ mạnh mẽ các giả thuyết nghiên cứu được xây dựng từ việc kết hợp các mô hình: ECM, D&M và TTF với tất cả các liên kết giả thuyết là quan trọng.
Nghiên cứu này cho thấy các nhà quản lý của các tổ chức có thể nghĩ rằng liệu ERP đám mây nên được thiết kế dựa trên thông tin nhiệm vụ phù hợp với mục tiêu, nhu cầu và phong cách làm việc của người dùng để tăng cường lợi ích sử dụng của ERP cho người dùng. Trong nghiên cứu này Cheng (2018) đã ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU chứng minh được chất lượng hệ thống và chất lượng thông tin đều tác động cùng chiều với TTF. Trong bối cảnh phương tiện truyền thông xã hội, Zha và cộng sự (2018) đã tìm hiểu tác động của tuyến trung tâm (chất lượng thông tin của phương tiện truyền thông xã hội) và tuyến ngoại vi (độ tin cậy nguồn của phương tiện truyền thông xã hội và danh tiếng của phương tiện truyền thông xã hội) đối với sự phù hợp giữa nhiệm vụ và thông tin. Bằng công cụ Smart PLS 2.0, kết quả nghiên cứu cho thấy tác động của chất lượng thông tin của phương tiện truyền thông xã hội đến sự phù hợp giữa nhiệm vụ và thông tin là rất đáng kể; tác động của sự phù hợp thông tin đối với việc sử dụng phương tiện truyền thông xã hội để có được thông tin là rất đáng kể.
11 Tóm lại, dựa trên mô hình hệ thống thông tin thành công Delone và McLean các tác giả đã chứng minh được chất lượng hệ thống và chất lượng thông tin có tác động cùng chiều với TTF ở nhiều bối cảnh khác nhau. Tổng hợp các nghiên cứu hành vi sử dụng công nghệ, sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ (TTF) và tính tương thích công việc. Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance model – TAM) của (Davis, 1989) cung cấp cơ sở cho việc khảo sát các tác động của các yếu tố bên ngoài vào các yếu tố bên trong là niềm tin (beliefs), thái độ (attitude) và ý định (intention). Mục tiêu của TAM là cung cấp các yếu tố tác động tới sự chấp nhận công nghệ.
Davis đã đưa ra 2 nhân tố “ nhận thức tính hữu dụng” (Perceived Usefulness) và “Nhận thức tính dễ sử dụng” (Perceived Ease of use) là hai nhân tố quan trọng nhất có tác động đến quyết định cá nhân về việc áp dụng công nghệ ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU thông tin. TAM là mô hình được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực chấp nhận công nghệ và có sức tác động lớn trong lĩnh vực HTTT (Lương Đức Thuận và Nguyễn Xuân Hưng, 2019). Dựa vào mô hình TAM các nhà nghiên cứu đã mở rộng và phát triển mô hình bằng cách bổ sung thêm các yếu tố mới. Wixom và Todd (2005) đã mở rộng mô hình TAM bằng cách bổ sung những yếu tố tác động, cụ thể như sau: – Những nhân tố tác động đến “Ý định hành vi” từ các mô hình có liên quan: chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi – Bổ sung những nhân tố tác động đến “Thái độ hướng đến việc sử dụng”: khả năng dùng thử, khả năng thử nghiệm, tính tương thích.
– Những biến bên trong: đặc điểm cá nhân, tính cách bên trong, trình độ, nhận thức, … Venkatesh và Davis (2000) đã phát triển mô hình TAM2, bằng cách thêm các yếu tố tác động từ bên ngoài (tác động từ xã hội) và từ bên trong (quá trình nhận thức) vào mô hình TAM ban đầu. Yếu tố tác động xã hội có thể kể đến như: chuẩn chủ quan, 12 tính tình nguyện hay quan niệm, ý tưởng từ xã hội. Yếu tố tác động từ quá trình nhận thức bao gồm sự phù hợp với công việc, kết quả công việc và nhận thức tính dễ sử dụng Ngoài ra một tác giả phát triển mô hình bằng cách kết hợp mô hình chấp nhận công nghệ TAM với một lý thuyết khác hay mô hình khác. Taylor và Todd (1995) kết hợp các yếu tố dự báo của TPB với 2 nhân tố “ nhận thức tính hữu dụng” và “Nhận thức tính dễ sử dụng” từ TAM.
Bên cạnh đó Taylor và Todd (1995) cũng đưa bổ sung vào khái niệm tính tương thích (compatibility) như là thành phần thứ ba của khái niệm thái độ về phía hành vi. Sun và cộng sự (2009) đã kết hợp TAM với Lý thuyết sự phù hợp giữa nhiệm vụ và công nghệ TTF (Goodhue và Thompson, 1995). Mô hình TTF đo lường mức độ mà công nghệ hỗ trợ các cá nhân thực hiện các nhiệm vụ của họ và chỉ ra rằng nếu công nghệ cung cấp các tính năng phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ của người dùng, thì hiệu suất của cá nhân và tổ chức sẽ tăng (Goodhue và Thompson, 1995). Sun và cộng sự (2009) đề xuất mô hình sử dụng HTTT bằng cách xem xét ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU thêm yếu tố: nhận biết tính tương thích công việc (PWC) trong việc định hình ý định sử dụng, sử dụng và hiệu suất sử dụng HTTT trong tổ chức.
Qua đó, xác định tầm quan trọng của việc kết hợp nhận thức tính tương thích công việc (PWC), hoặc cấu trúc TTF, trong các mô hình sử dụng HTTT mới. Như vậy, mô hình chấp nhận công nghệ TAM được xây dựng. Sau đó, mô hình Tam tiếp tục được nâng cấp và mở rộng: TAM mở rộng (Wixom và Todd, 2005); TAM2 (Venkatesh và Davis, 2000) đã bổ sung nhiều biến bên ngoài tác động trực tiếp tới các biến trong mô hình; một số tác giả khác lại kết hợp TAM với một số lý thuyết khác (Taylor và Todd, 1995) hay yếu tố khác (Sun và cộng sự, 2009) để bổ sung thêm các biến niềm tin hành vi , thái độ hành vi.