Luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn quan điểm lịch sử cụ thể với vấn đề thực hiện công bằng xã hội ở việt nam hiện nay

Luận văn thạc sĩ phân tích xã hội và nhân văn quan điểm lịch sử cụ thể với vấn đề thực hiện công bằng xã hội ở việt nam hiện, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

124
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Lý luận về quan điểm lịch sử cụ thể

Chương này phân tích quan điểm lịch sử cụ thể trong triết học trước Mác và triết học Mác-Lênin. Nó khám phá sự hình thành và nội dung của quan điểm này, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng quan điểm lịch sử cụ thể trong nghiên cứu xã hội. Quan điểm này giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển của công bằng xã hội trong bối cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam.

1.1. Quan điểm lịch sử cụ thể trong triết học trước Mác

Phần này trình bày các quan điểm về lịch sử cụ thể trong triết học cổ đại, đặc biệt là từ các trường phái triết học Ấn Độ và Trung Quốc. Các tư tưởng này đã đặt nền móng cho việc hiểu về công bằng xã hội và sự phát triển của xã hội. Ví dụ, Nho giáo nhấn mạnh vai trò của đạo đức và công bằng trong việc xây dựng xã hội.

1.2. Quan điểm lịch sử cụ thể trong triết học Mác Lênin

Phần này phân tích cách quan điểm lịch sử cụ thể được phát triển trong triết học Mác-Lênin. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét các điều kiện lịch sử cụ thể khi nghiên cứu công bằng xã hội. Quan điểm này đã ảnh hưởng sâu sắc đến các nghiên cứu xã hội và chính sách công bằng ở Việt Nam.

II. Thực trạng công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay

Chương này đánh giá thực trạng công bằng xã hộiViệt Nam hiện nay. Nó phân tích các thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện công bằng xã hội, đồng thời chỉ ra những vấn đề cần giải quyết. Phần này cũng nhấn mạnh vai trò của chính sách công bằng trong việc thúc đẩy phát triển xã hội.

2.1. Vai trò của công bằng xã hội

Phần này khẳng định vai trò quan trọng của công bằng xã hội trong việc ổn định và phát triển xã hội. Nó phân tích cách công bằng xã hội ảnh hưởng đến các khía cạnh kinh tế, chính trị và văn hóa của Việt Nam.

2.2. Thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam

Phần này đánh giá các thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện công bằng xã hộiViệt Nam. Nó chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng và đề xuất các giải pháp để cải thiện tình hình.

III. Giải pháp thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay

Chương này đề xuất các giải pháp để thực hiện công bằng xã hộiViệt Nam hiện nay. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền và giáo dục về công bằng xã hội. Các giải pháp này nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và công bằng trong xã hội.

3.1. Tăng cường lãnh đạo của Đảng

Phần này nhấn mạnh vai trò của Đảng trong việc thực hiện công bằng xã hội. Nó đề xuất các biện pháp để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc hoạch định và thực thi các chính sách công bằng.

3.2. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền

Phần này đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền và giáo dục về công bằng xã hội. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức của người dân về công bằng xã hội.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn quan điểm lịch sử cụ thể với vấn đề thực hiện công bằng xã hội ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ QUAN ĐIÊM LỊCH SỬ, CỤ THÊ 1. QUAN DIEM LICH SỬ CỤ THẺ TRONG TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC 1. Quan điểm lịch sử, cụ thể trong triết học thời cỗ đại Triết học Án Độ ra đời sớm, đồ sộ về quy mô và số lượng tác phẩm, sự. đa dạng các trường phái, sự phong phú cách thể hiện, sự sâu rộng nội dung phản ánh.

Vì vậy, triết học Án Độ cổ, trung đại là một trong những cội nguồn của nền văn minh nhân loại nói chung, cội nguồn của nền triết học thế giới nói riêng. Trong quá trình vận động và phát triển, nền triết học Án Độ cổ, trung đại chịu ảnh hưởng lớn của những tư tưởng tôn giáo, nên giữa triết học và tôn giáo rất khó phân biệt. Tư tưởng triết học ẩn dấu sau các lễ nghỉ huyển bí, chân lý thể hiện qua Kinh Véda và Upanisad. Vì vậy, từ thời kỳ cỗ điển về sau, trừ trường phái duy vật điển hình Lokàyata đã mắt đi từ sớm, còn các trường phái triết học khác có một sự chuyền biến giống nhau là từ chủ nghĩa duy vật sang chủ nghĩa duy tâm, từ vô thần sang hữu thắn.

Các vấn đề lớn của triết học như bản thể luận, nhận thức luận, vấn đề con người và cuộc sống của con người đều được lý giải một cách duy tâm: - ‘Van đề bản thể luận, trong tư tưởng t t học từ thời so kha có mầm mống và sau đó từ thời cô điển trở đi, đã có hai quan điểm đối lập nhau là coi thế giới bị chỉ phối bởi một nguyên lý phi nhân cách và quan niệm coi một vị “Thượng đề nhân cách hóa điề khiển mọi quá trình vũ trụ. Van dé quan tam hang đầu của các trường phái là mối quan hệ giữa tỉnh thần vũ trụ tối cao (Brahman) với linh hồn con người (Atman). Họ đã giải thích duy tâm rằng Brahman là thực thể duy nhất, có trước, bắt diệt sinh ra tat cả các sự vật, hiện tượng của thế giới và sự nhập về với Brahman của tắt cả mọi sự vật hiện tượng trong thế giới. Mọi sự vật, hiện tượng đều có Atman, và Atman là một bộ phận của Brahman.

Vn dé con người và cuộc sống của con người, là vấn đề triết học Ấn Độ cỗ trung đại rất quan tâm. Nhưng do ảnh hưởng tư tưởng luân hồi của kinh 'Upanisad, do hạn chế của lịch sử, các nhà tư tưởng đã không tìm thấy nguyên nhân đau khô của con người là trong đời sống kinh tế - xã hội mà là trong. nhận thức, do “Vô minh”. Vi thế, hầu hết các trường phái triết học đều tập trung giải quyết vấn đề nhân sinh bằng con đường “giải thoát” mang mau sic duy tâm.

'Về nhận thức, để giải thoát linh hồn bat tử khỏi vòng vây hãm của luân hồi nghiệp báo, thì phải có tri thức. Con đường đạt tới trí thức không phải là hoạt động nhận thức thông qua sự tác động qua lại của chủ thể và khách thể mà phải Thiển. Thiền là con đường trực giác thực nghiệm tâm linh của con người để nhận ra chân bản của mình, để linh hồn (Atman) đồng nhất với tinh thần vũ trụ tối cao (Brahman). Khi giải quyết các vấn đề của triết học, các hệ thống triết học Ấn Độ cô đại chỉ tôn trọng quá khứ, có khuynh hướng phục cổ.

Khác với triết học phương Tây, các nhà triết học không đặt ra mục đích tạo ra một loại triết học mới thông qua phê phán có kế thừa nền triết học trước đó mà chỉ tập trung ly gi bậc tiền bồi đặt ra được bàn sâu sắc, nhưng không phong phú. Nét nỗi bật của triết học Trung Quốc cổ, trung đại là vấn đề con người và xây dựng con người. Đã có nhiều trường phái triết học Trung Quốc cổ, trung đại đưa ra các quan niệm khác nhau về vấn để này trong đó có trường phái Nho giáo. Nho giáo là một trong những trường phái triết học lớn nhất và có ảnh hưởng sâu sắc nhất ến xã hội của Trung quốc thời cỗ đại do Không tử (551-479 TCN) sáng lập.

Cũng như các trường phái triết học khác, khi tìm hiểu về con người, Nho giáo tìm cách lý giải vấn đề bản chất con người và mối quan hệ giữa con người đối với thế giới xung quanh. Tuy nhiên do thế giới quan duy tâm cùng phương pháp tư duy siêu hình đã không thể giúp cho các nhà triết học Trung hoa giải quyết các vấn đề của đời sống, con người trên quan điểm lịch sử, cụ thế. Chúng ta khảo sát các quan điểm của họ đề khẳng định nhận định này. Nho giáo xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên, dưới thời xuân thu, người sáng lập là Không Tử (551-479 trước CN).

Đến thời Chiến Quốc, Nho giáo được Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển theo hai xu hướng khác nhau: duy vật và duy tâm, trong đó dòng Nho giáo Khổng - Mạnh có ảnh hưởng rộng và lâu dài nhất trong lịch sử Trung Hoa và một số nước lân cận. Trong quan niệm về thể giới, tư tưởng của Khổng Tử luôn có những mâu thuẫn. Trong học thuyết của Nho giáo, Không Tử thường nói đến Trời, đạo trời, mệnh trời. Tư tưởng của ông về các lĩnh vực này, không rõ ràng là duy vật hay duy tâm.

Mục đích của ông khi bàn đến các vấn đề trên là làm chỗ dựa cho học thuyết và đạo lý của mình, để ông đi sâu vào các vấn đề chính trị - đạo đức xã hội. Một mặt, khi chống lại chủ nghĩa thần bí, tôn giáo đương thời, ông thừa nhận sự vật, hiện tượng trong tự nhiên luôn luôn vận động, biến hoá không phụ thuộc vào mệnh lệnh của trời. Trời đối với Không Tử có chỗ như là một quy luật, là trật tự của vạn vật. "Trời có nói gì đâu, bốn mùa vẫn thay đổi, trăm vật vẫn sinh trưởng", cũng như dòng nước chảy, mọi vật đều trôi đi, ngày đêm không ngừng, không nghỉ".

Đây là tư tưởng biện chứng tự phát của ông chứa đựng mầm mồng của. quan điểm lịch sử, cụ thể Trong học thuyết của Nho giáo kế thừa tư tưởng thời Chu, khái niệm "trời" có ý nghĩa bậc nhất. Nhưng khi giảng giải đạo lý của mình, Không Tử lại không nói rõ ràng và có hệ thống. Sau này quan niệm về trời đất đã lần lượt được các danh Nho đời Hán về sau bổ sung.

Tư tưởng của Không Tử gộp trời đất muôn vật vào một thẻ Không Tử. thường chú ý đến tính chất động nhiều hơn tính chất tĩnh. Quan niệm về vấn đề này biểu hiện đầy đủ, rõ ràng và bao quát bằng từ "Dịch". Dịch là đổi, bao.

ham cả ý nghĩa thay đôi, trao đổi, biến đôi. Nguyên lý phép tắc của nó được ghi trong Kinh Dịch. Khổng Tử cho rằng trời có ý chí, có thể chỉ phối vận mệnh của con người. Đó là quan điểm về "Thiên mệnh".

Ông tin vào vũ trụ quan "Dịch", cuộc vận hành biến hoá không ngừng sâu kín, mầu nhiệm của vũ trụ, con người không thể cưỡng nổi. Ông nói: "Than ôi, trời làm mắt đạo ta", "mắc tội với trời không thê cầu ở đâu mà thoát được". Ông cho rằng mỗi cá nhân, sự sống - chết, phú quý hay nghèo hèn đều là do "Thiên mệnh" quy định. Phú quý không thể cầu mà có được, do vậy bắt tất phải cải.

Tin vào "Thiên mệnh", Khổng Tử coi sợ "mệnh trời", hiểu biết "mệnh ười" là một điều kiện tắt yếu để trở thành con người hoàn thiện là người quân tử. Tuy nhiên, Khổng Tử lại cho rằng con người bằng nỗ lực chủ quan của mình cũng có thể thay đổi được cái "Thiên tính" ban đầu. Ông nói, con người lúc sinh ra, cái "tính" trời phú cho là giống nhau nhưng trong quá trình tiếp xúc, học tập. nó làm cho họ khác nhau, có kẻ trí, có người ngu ("Tính tương, cận, Tập tương viễn").

Đây là mặt tích cực, chỗ "thêm vào" của Không Tử so. với quan niệm "mệnh trời” trước đó. Nội dung cơ bản của quan niệm Nho giáo về con người được cụ thể như sau: Nguồn gốc của con người: Không Tử cho rằng trời sinh ra con người và muôn vật. Vị trí và vai trò của con người trong mối quan hệ với trời, đất, con người và vạn vật trong vũ trụ.

Nho giáo đã đặt con người lên một vị trí rất cao, coi con người do trời sinh ra nhưng sau đó con người cùng với trời, đất là ba ngôi tiêu biểu cho tat cả mọi vật trong thế giới vật chất và tỉnh thần. Kinh dịch Thiên Hạ chỉ ra rằng: "Trời, Đắt, người là tam tài". Lễ Ký, Thiên Lễ Vận coi con người là "cái đức của trời đất, sự tam hợp của âm dương, sự tụ hội của quỷ thần, cái khí tỉnh tú của ngũ hành". Quan hệ giữa trời với người.

Nho giáo quan niệm con người là một bộ phận khăng khít, hữu cơ trong hệ thống chỉnh thể thế giới và vũ trụ. Khổng tử cho rằng có mệnh trời và coi mệnh trời chỉ phối cuộc sống xã hội, cuộc đời của mỗi con người. Mạnh Tử - một học trò nỗi tiếng của ông cho rằng trời an bài địa vị xã hội của con người. Đồng Trọng Thư, đời Hán, nêu lên thuyết thiên nhân cảm ứng" cho ring trời, người thông cảm với nhau, ười là chủ thể của việc người.

Trong Kinh dịch có nói "Trời, đất, muôn vật là nhất th „ tức là con người có thể suy từ bản thân mà tìm hiểu được trời đất và muôn vật. Đối lập với quan điểm "Thiên nhân cảm ứng" là quan điểm "Thiên nhân bắt tương quan”. Đại diện tiêu biểu của quan niệm này là Tuân Từ - một học trò khác của Không Tử. Tuân Tử cho rằng đạo trời không quan hệ gì với đạo người.

Trị, loạn không phải tại trời, đất Trời không thể làm hại được người nếu ta luôn chăm lo phát triển nông nghiệp, biết chỉ dùng có tiết độ. Tư tưởng triết học của Tuân Tử thuộc chủ nghiã duy vật thô sơ. Không tử cho rằng "tính mỗi con người đều gần nhau, do tập tành và thói quen mới hóa ra xa nhau ("Nhân chỉ sơ tính bản thiện, tính tương cận, tập. tương viễn" - Sách Luậ Ngữ, Dương Hóa, 2).

Mạnh Tử khẳng định bản tính con người vốn là thiện. Không một 10 người nào sinh ra mà tự nhiên bắt thiện. Sự khác nhau giữa con người với con vật, theo Mạnh Tử là ở chỗ mỗi con người đều có phần quý trọng và phần bï tiện, có phần cao đại và phần thắp hèn, bé nhỏ. Chính phần quý trọng cao đại mới là tính người, mới là cái khác giữa người và cầm thú.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Quan Điểm Lịch Sử Cụ Thể Về Công Bằng Xã Hội Ở Việt Nam Hiện Nay là một nghiên cứu chuyên sâu về sự phát triển và thực trạng của công bằng xã hội tại Việt Nam trong bối cảnh hiện đại. Tài liệu này phân tích các yếu tố lịch sử, văn hóa và chính trị đã định hình quan niệm về công bằng xã hội, đồng thời đưa ra những đánh giá cụ thể về những thành tựu và thách thức mà Việt Nam đang đối mặt. Đọc giả sẽ được cung cấp cái nhìn toàn diện về cách các chính sách xã hội được hình thành và triển khai, cũng như tác động của chúng đến đời sống người dân.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh khai tử cấp xã từ thực tiễn quận hà đông thành phố hà nội, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn về quản lý hành chính và các vấn đề xã hội. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ hội đoàn kết sư sãi yêu nước vùng tây nam bộ sẽ giúp bạn hiểu thêm về các tổ chức xã hội và vai trò của chúng trong việc thúc đẩy công bằng. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học bước đầu tìm hiểu cấu trúc vi mô của từ điển bách khoa công an nhân dân việt nam mang đến góc nhìn độc đáo về ngôn ngữ và văn hóa, một yếu tố không thể thiếu trong nghiên cứu xã hội.

Mỗi tài liệu trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các khía cạnh khác nhau của xã hội Việt Nam, từ quản lý nhà nước đến văn hóa và ngôn ngữ.