Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP CHO SINH VIÊN CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Khởi nghiệp (tiếng anh Startup), đã xuất hiện từ khá lâu với ý nghĩa là một khái niệm không mới trên thế giới. Startup với nghĩa là ý tưởng khởi nghiệp bắt đầu xuất hiện từ Israel một đất nước của người Do Thái, dân tộc được mệnh danh là dân tộc thông minh nhất thế giới.
Đây là nơi sản sinh ra những ý tưởng độc đáo, những ý tưởng này đã đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại và đây cũng là nơi gieo mầm cho những ý tưởng kinh doanh mới lạ, phát triển và lan tỏa trên khắp thế giới. Ngay từ khi xuất hiên, khởi nghiệp đã phát triển không ngừng, Không chỉ dừng lại ở Israel mà khởi nghiệp đã trở thành một phong trào chung, một ý tưởng tuyệt vời được các quốc gia phát triển như Mỹ, Canada, Úc đón nhận và khuyến khích phát triển, người trẻ khởi nghiệp có ý nghĩa lớn trong sự phát triển cá nhân nói riêng, vừa để đất nước giàu có thịnh vượng nói chung. Tiêu biểu cho phong trào khởi nghiệp trên thế giới có thể nói đến Singapore - đất nước đã và đang phát triển, lan tỏa phong trào khởi nghiệp một cách mạnh mẽ. Phong trào Startup đã biến cải một đất nước Singapore nghèo nàn, lạc hậu trở thành quốc gia có mức sống hàng đầu trên thế giới.
Hiện nay, Singapore được mệnh danh là một trong bốn con rồng Châu Á mà cả thế giới phải ngưỡng mộ, nể phục. Theo tác giả Viễn Thông (2018) từ bài báo “Lý do Singapore hấp dẫn startup thế giới” đã cho biết qua nhiều khảo sát khác nhau, báo cáo năm 2017 từ Startup Genome (Mỹ), đã xếp Singapore hạng nhất thế giới về tài năng khởi nghiệp và hạng ba về kết nối toàn cầu trong số 20 hệ sinh thái khởi nghiệp lớn trên thế giới. Qua đó chứng minh được hệ thống tổ chức và quản lý khởi nghiệp 6 ở quốc gia này là một hệ thống tương đối hoàn chỉnh. Singapore cũng được xếp hạng là thành phố sáng tạo nhất ở châu Á-Thái Bình Dương.
Có thể nhận thấy ở đây có những đặc điểm phát triển một hệ sinh thái khởi nghiệp đa dạng và giàu tiềm năng như: Đa dạng mô hình với hơn 130 cơ sở gồm vườn ươm khởi nghiệp (Incubator), nôi khởi nghiệp (Venture Builder) giúp tăng tốc khởi nghiệp (Accelerator) tại Singapore. Nhà nước này đã và đang khuyến khích nhiều công ty thành lập và đồng phát triển các mô hình vườn ươm khởi nghiệp (Incubator), bên cạnh đó, họ ưu tiên tính quốc tế trong phát triển khởi nghiệp, yếu tố đặc biệt giúp hệ sinh thái startup phát triển mạnh tại Singapore chính là sự đa dạng quốc tế. Cùng với đó Singapore luôn ưu tiên cho các chính sách phát triển khởi nghiệp, tạo những hành lang pháp lý chặt chẽ trong cấu trúc nhưng lại mở rộng cho nhiều phạm vi, lĩnh vực, tạo mọi điều kiện cho các công dân khởi nghiệp [16]. Đối với các quốc gia phát triển, hình thức khởi nghiệp và hệ sinh thái khởi nghiệp cũng có rất nhiều yếu tố đặc biệt, tập trung phát triển khởi nghiệp công nghệ nhiều hơn.
Cách thức tổ chức quản lý cũng được xiết chặt hơn do có nhiều sự xuất hiện của tội phạm công nghệ cao, liên quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ… Hiện nay, các quốc gia trên thế giới nghiên cứu đề tài khởi nghiệp rất nhiều. Các quốc gia này có tầm nhìn hướng về một xã hội, đất nước tốt đẹp, giàu mạnh khi có những doanh nghiệp mới được thành lập để cung cấp các giá trị mới cho toàn xã hội. Đối tượng nghiên cứu khởi nghiệp đặc trưng là thanh niên - sinh viên. Vì đối tượng này là thành phần có nhiều tiềm năng khi có các tính cách đặc trưng về sự năng động và sáng tạo.
Tuy nhiên có 02 trường phái nghiên cứu về khởi nghiệp. Một trường phái chỉ tập trung nghiên cứu tiềm năng khởi nghiệp đối với thanh niên - sinh viên thuộc chuyên ngành kinh tế và trường phái còn lại thì nghiên cứu cả tổng thể những các nhân và tập thể, tổ chức có khả năng khởi nghiệp ở tất cả các khối ngành. Theo ý kiến của giáo sư Hynes, “khi thực hiện các nghiên cứu đánh giá chung cho cả sinh viên kinh tế và sinh viên khối ngành kỹ thuật đã thấy rõ sự những điểm tương đồng và khác biệt giữa 02 nhóm đối tượng đó về tiềm năng cũng như xu hướng khởi nghiệp của mỗi nhóm đối tượng” [15]. Theo mô hình khởi nghiệp ĐMST của Founder Institute, trường đại học đóng vai trò quan trọng trong cả ba giai đoạn chính: Hình thành ý tưởng; phát triển sản phẩm và tăng trưởng.
Trong giai đoạn đầu tiên, nhà trường mà cụ thể là giảng viên và các đơn vị hỗ trợ đóng vai trò là những người truyền cảm hứng, cung cấp thông tin, giới thiệu những thành công, điển hình, kinh nghiệm, hỗ trợ phát triển đội nhóm thông qua thúc đẩy hợp tác liên ngành trong sinh viên. Khi doanh nghiệp có sản phẩm, dịch vụ, nhà trường cung cấp những kiến thức cần thiết về kinh doanh như luật pháp, thuế, kế toán cho đến những hỗ trợ về nơi làm việc cho các nhà sáng lập doanh nghiệp. Đối với giai đoạn thứ ba khi hệ sinh thái có nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển tốt, trường đại học cần đóng vai trò tiên phong cung cấp những tài năng kinh doanh, nguồn lực chất lượng tốt với tư duy, kỹ năng và trải nghiệm hữu ích để doanh nghiệp tăng trưởng bền vững. Như vậy, trường đại học vừa trang bị cho người học những kỹ năng, kiến thức và trải nghiệm để sẵn sàng khởi nghiệp khi có hướng đi ĐMST thực sự vừa thực thi tốt vai trò của mình trong cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội.
Nếu cách tiếp cận về vai trò trường đại học trong nền kinh tế nhấn vào yếu tố nội lực của trường đại học để ĐMST, thì cách tiếp cận về vai trò của trường đại học trong hệ sinh thái khởi nghiệp cho thấy tính hiệu quả khi đưa sản phẩm dịch vụ từ trường đại học ra bên ngoài và thương mại hóa. Trong khi cách tiếp cận thứ nhất chỉ rõ, để chuyển giao tốt sản phẩm của mình ra bên ngoài, các trường đại học cần thúc đẩy đổi mới sáng tạo mạnh mẽ và hợp tác với khu vực tư nhân, cách tiếp cận thứ hai nhấn mạnh vai trò của trường đại học rất lớn trong truyền cảm hứng, hỗ trợ thẩm định ý tưởng và phát triển đội nhóm trong các 8 trường đại học. Cả hai cách tiếp cận đều toát lên những điểm chính về vai trò của trường đại học trong đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp: (1) Tinh thần doanh nhân và truyền cảm hứng; cung cấp nhân lực chất lượng cao (2) Hợp tác với doanh nghiệp và nắm bắt nhu cầu thị trường. Từ đó có thể thấy, một số yếu điểm rõ nhất của các trường đại học Việt Nam hiện nay như sau: - Nguồn nhân lực và khoảng cách giữa nhà trường và thị trường: sinh viên ra trường vừa thiếu vừa yếu kỹ năng, kinh nghiệm, ngoại ngữ, thực hành không đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp.
Việc cải tiến giáo trình giảng dạy diễn ra chậm chạp, đang đẩy nhà trường, giảng viên vào thế “không nói chung một ngôn ngữ với thị trường”. - Động lực ĐMST từ giảng viên: vì thiếu sự tương tác thực tiễn và thu nhập “theo quy định” nên việc giảng viên truyền cảm hứng để sinh viên khởi nghiệp và hỗ trợ kết nối các nguồn lực để các ý tưởng kinh doanh trong sinh viên có thể phát triển vươn xa thường kém hiệu quả. - Hợp tác với doanh nghiệp còn hạn chế: chi phí khởi nghiệp ở nhiều thành phố lớn trên thế giới thấp và có tính cạnh tranh do các trường đại học mạnh dạn hợp tác với doanh nghiệp nhằm ươm mầm cho các dự án tiềm năng đồng thời tăng kinh nghiệm cọ xát trong môi trường kinh doanh thực tiễn cho sinh viên. Việc đặt hàng và hợp tác từ phía các doanh nghiệp khó có thể diễn ra suôn sẻ nếu không có cơ chế thuận lợi cho thúc đẩy cho việc hợp tác này.
Trong cuốn sách Innovation 2.0 - Reinventing University Roles in a Knowledge Economy (Đổi mới sáng tạo 2.0 - Sáng tạo lại vai trò của trường đại học trong nền kinh tế tri thức) nghiên cứu về 12 trường hợp là những trường đại học đổi mới sáng tạo về công nghệ hàng đầu của Mỹ, hai tác giả Louis G. Tornatzky và Elaine C. Rideout đã chỉ ra năm vấn đề mà các trường đại học muốn đổi mới sáng tạo phải đối mặt. Nó cũng lý giải tại sao một số trường đại học đổi mới sáng tạo thành công, còn một số trường lại gặp khó khăn trong đổi mới sáng tạo.
Năm vấn đề đó là (1) Văn hóa của trường đại học, (2) Vai trò của 9 lãnh đạo, (3) Tinh thần khởi nghiệp, (4) Thiết lập mối quan hệ đối tác với doanh nghiệp và cộng đồng, (5) Chuyển giao công nghệ. Những nghiên cứu ở nước ngoài là căn cứ quan trọng, là những nền tảng giúp khởi nghiệp ở Việt Nam sẽ đi tắt đón đầu trong việc hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp của riêng mình. Các nghiên cứu ở Việt Nam Khởi nghiệp ĐMST đã và đang là một trong những vấn đề thời sự của đất nước trong vài năm gần đây, ngày càng được đẩy mạnh theo hướng thiết thực, hiệu quả với sự tham gia sâu rộng của các Bộ/Ngành Trung ương và địa phương cũng như nhiều cơ quan, đơn vị trong cả nước. Ngày 18/5/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 844/QĐ-TTg về việc phê duyệt Dự án "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025".
Trường đại học, một chủ thể quan trọng của khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo sẽ phát huy được mạnh mẽ thế mạnh và thực thi sứ mệnh của mình hiệu quả khi ở tầm vĩ mô, các nhà quản lý nhìn nhận ra vấn đề đổi mới sáng tạo và cơ chế chính sách cho đổi mới sáng tạo ở trường đại học là nhân tố sống còn cho phát triển một xã hội đổi mới sáng tạo và chủ động sáng tạo giá trị. Khi đó, bản thân các trường chủ động nâng cao nội lực thông qua quyết tâm thay đổi, đặt đổi mới sáng tạo vào nhiệm vụ trọng tâm để tự đổi mới chính mình và xác định kỳ vọng đầu ra một cách rõ ràng minh bạch, bằng chiến lược hợp tác mạnh mẽ và hiệu quả với khu vực tư nhân và thị trường.