Tổng quan về luận án
Tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX ghi nhận sự chuyển mình vượt bậc của hệ thống thể loại, trong đó thể phóng sự nổi lên như một hiện tượng tân văn độc đáo, đóng vai trò xung kích trên giao lộ giữa văn học và báo chí. Mặc dù Vũ Trọng Phụng được tôn vinh đồng thời ở cả hai cương vị "nhà tiểu thuyết trác tuyệt" và "ông vua phóng sự đất Bắc", lịch sử nghiên cứu văn học sử suốt hơn nửa thế kỷ đã tồn tại một sự thiên lệch sâu sắc. Khảo sát thư mục nghiên cứu trong chuyên luận Vũ Trọng Phụng - hôm qua và hôm nay tính đến năm 1992 cho thấy: trong tổng số 141 công trình và bài viết khoa học về sự nghiệp của họ Vũ, chỉ có vỏn vẹn 3 bài khảo cứu chuyên biệt về mảng phóng sự; tại hai hội thảo khoa học toàn quốc năm 1987 (TP. Hồ Chí Minh) và 1989 (Hà Nội) với 29 báo cáo khoa học mỗi kỳ, chỉ có đúng 2 báo cáo đề cập đến phóng sự; thậm chí tại hội thảo khoa học kỷ niệm 80 năm ngày sinh của tác giả vào năm 1992 với 25 báo cáo, hoàn toàn không có một công trình nào bàn thảo riêng về thể tài này. Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Hoài Thanh với đề tài "Khảo sát những đặc điểm thể loại phóng sự của Vũ Trọng Phụng" đã giải quyết triệt để khoảng trống học thuật (research gap) mang tính lịch sử này.
Về mặt lý luận và thực tiễn thể loại, luận án vận hành trên hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học xác định:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Phóng sự của Vũ Trọng Phụng định vị ở đâu trong tọa độ giao thoa giữa phóng sự báo chí thông tấn và phóng sự văn học nghệ thuật?
- Giả thuyết 1 (H1): Phóng sự của Vũ Trọng Phụng không dừng lại ở mức độ ghi chép thông tin thời sự theo nguyên tắc 6Wh thuần túy mà đã hoàn tất bước chuyển thể loại mang tính bước ngoặt, tạo dựng hình thái phóng sự văn học hoàn chỉnh mang đậm tố chất tiểu thuyết hóa và giá trị thẩm mĩ.
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Cấu trúc hiện thực và thế giới quan tư tưởng của tác giả được phản ánh qua các tầng nấc tha hóa xã hội như thế nào?
- Giả thuyết 2 (H2): Bức tranh hiện thực trong phóng sự họ Vũ là một hệ thống giải phẫu xã hội học sắc sảo về các tệ nạn trầm kha, phản ánh tinh thần nhân đạo sâu sắc, đồng thời bộc lộ những giới hạn lịch sử và dấu vết tự nhiên chủ nghĩa dưới lăng kính phân tâm học sơ kỳ.
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Những thủ pháp thi pháp học nào xác lập nên diện mạo độc đáo của ngòi bút phóng sự Vũ Trọng Phụng?
- Giả thuyết 3 (H3): Sự năng động trong tiếp cận tư liệu, thi pháp xây dựng quần thể nhân vật biếm họa và nghệ thuật giễu nhại trào phúng là ba trụ cột định hình phong cách tác gia.
- Câu hỏi nghiên cứu 4 (RQ4): Lời văn nghệ thuật và các lớp ngữ dụng khẩu ngữ đóng vai trò cách tân ra sao đối với ngôn ngữ văn xuôi tiếng Việt hiện đại?
- Giả thuyết 4 (H4): Việc đưa khẩu ngữ đô thị, tiếng lóng cờ bạc, thành ngữ dân gian và câu văn hiện đại vào cấu trúc trần thuật đã giải phóng ngôn ngữ văn học thoát khỏi tính chất biền ngẫu, ước lệ truyền thống.
Khung lý thuyết của công trình được kiến tạo dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, lý thuyết thể loại của Mikhail Bakhtin, quan điểm thi pháp học Mác-xít và lý luận phong cách học báo chí của G. Solganik. Đối tượng khảo sát trọng tâm là 5 thiên phóng sự quy mô hoàn chỉnh còn nguyên bản gồm: Cạm bẫy người (1933), Kĩ nghệ lấy Tây (1934), Cơm thầy cơm cô (1936), Lục xì (1937), và Một huyện ăn Tết (1939), kết hợp đối chiếu văn bản học với 3 tác phẩm thất lạc hoặc đăng tải dở dang (Dân biểu và dân biểu, Vẽ nhọ bôi hề, Đời cạo giấy). Phạm vi nghiên cứu này xác lập một hệ quy chiếu toàn diện, đánh giá tác phẩm trên cả hai trục nội dung hiện thực - tư tưởng và thi pháp nghệ thuật - ngôn ngữ.
Literature Review và Positioning
Tiến trình tiếp nhận và đánh giá phóng sự Vũ Trọng Phụng trong lịch sử văn học Việt Nam trải qua ba giai đoạn đầy biến động, gắn liền với những chuyển biến tư tưởng, chính trị và ý thức hệ thẩm mĩ của đất nước:
Giai đoạn thứ nhất (1933 - 1944) chứng kiến sự phân cực gay gắt giữa hai luồng dư luận đương thời. Một bên là sự tôn vinh nồng nhiệt từ các đồng nghiệp và nhà phê bình như Tam Lang – người tiên phong của thể phóng sự thừa nhận: "Đọc những thiên phóng sự ấy, tôi nhận thấy về mặt phóng sự - một lối văn do tôi khởi xướng - đã bỏ xa tôi lắm!", hay Trương Tửu khẳng định bốn tác phẩm Cạm bẫy người, Cơm thầy cơm cô, Lục xì, Kĩ nghệ lấy Tây "là những kiệt tác... nền móng đầu tiên của nghệ thuật phóng sự trong văn giới Việt Nam hiện đại". Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (1942) đã đưa ra các nhận định khách quan về vai trò của "cái Tôi trần thuật" và tố chất phóng sự trong phong cách họ Vũ. Ngược lại, phái công kích đại diện bởi Thái Phỉ (Tin Văn) và Nhất Linh dưới bút danh Nhất Chi Mai (Ngày Nay) đã quy kết phóng sự của ông là "văn chương dâm uế", lên án gay gắt các cảnh tả thực trong Lục xì, châm ngòi cho cuộc bút chiến kinh điển về vấn đề "dâm hay không dâm" trên báo chí tiền chiến.
Giai đoạn thứ hai (1945 - 1985) diễn ra phức tạp dưới sự chi phối của bối cảnh chính trị - xã hội. Mặc dù các nhà văn, nhà nghiên cứu như Tố Hữu (1949), Nguyễn Đình Lạp (1950), Nguyên Hồng, Phan Khôi và Văn Tâm (1956) khẳng định sức mạnh chiến đấu hiện thực và tấm lòng nhân đạo của tác giả, nhưng trong các thập niên tiếp theo, phóng sự Vũ Trọng Phụng bị phê phán nghiêm khắc. Các ý kiến của Hoàng Văn Hoan, hay nghiên cứu của Nguyễn Đăng Mạnh và Vũ Đức Phúc thời kỳ này có xu hướng quy kết Lục xì là tác phẩm thuần túy "tự nhiên chủ nghĩa", xem phóng sự của ông là những "tiểu thuyết tự nhiên chủ nghĩa không thành tiểu thuyết". Ở miền Nam trước 1975, các nhà nghiên cứu như Phạm Thế Ngũ và Thanh Lãng tiếp cận tác phẩm dưới góc độ tài liệu xã hội học và thi pháp tả thực sinh động.
Giai đoạn thứ ba (1986 - 1998) mở ra thời kỳ phục hồi khoa học và tái đánh giá toàn diện di sản Vũ Trọng Phụng dưới ánh sáng Đổi Mới. Toàn bộ 5 thiên phóng sự chính yếu được tái bản trang trọng. Các nhà nghiên cứu hàng đầu như GS. Nguyễn Đăng Mạnh (1989), PGS. Trần Hữu Tá (1987, 1989), PGS. Nguyễn Hoành Khung (1988) đã khẳng định vị thế đỉnh cao của phóng sự Vũ Trọng Phụng. Nguyễn Hoành Khung đánh giá: "ông là một trong số những người mở đầu và là người có công lớn nhất trong việc đưa thể loại phóng sự đến thành thục". Các công trình nghiên cứu sau đại học của Nguyễn Huy Quảng (1996) và Trần Đăng Thao (1996) đã bước đầu khảo cứu phương thức tự sự và tính tiểu thuyết, song vẫn chưa mở rộng biên độ khảo sát đến toàn bộ các bình diện thi pháp và ngôn ngữ học.
Đặt trong tương quan quốc tế, sự trỗi dậy của thể phóng sự do Vũ Trọng Phụng đại diện tại Việt Nam hoàn toàn tương thích với quy luật phát triển của thể loại trên thế giới. Nếu như Henry Morton Stanley trên tờ New-York Herald (1871) đánh dấu sự khai sinh của phóng sự điều tra phương Tây, thì các tác phẩm phóng sự xã hội của Upton Sinclair (The Jungle, 1906) tại Mỹ hay Charles Dickens (Sketches by Boz, 1835) tại Anh đều dùng ngòi bút hiện thực để mổ xẻ những góc khuất tàn bạo của đô thị hóa tư bản. Vũ Trọng Phụng đã định vị thể phóng sự Việt Nam ngang tầm với các trào lưu phóng sự văn học hiện đại thế giới cùng thời như Egon Erwin Kisch hay Albert Londres.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng lý thuyết thể loại của Mikhail Bakhtin về tính năng động và vai trò của thể loại như "nhân vật chính của tấn kịch lịch sử văn học", đồng thời phát triển quan điểm của V. Belinsky về mối quan hệ giữa tính khách quan và tính chủ quan trong trần thuật. Đóng góp lý thuyết nổi bật của công trình là xác lập mô hình phân định ba bình diện thể loại:
- Phóng sự báo chí (Journalistic Reportage): Vận hành theo nguyên tắc phản ánh khách quan tuyệt đối, bám sát bộ quy tắc 6Wh (What, Where, When, Which, Who, Why), triệt tiêu hoàn toàn yếu tố hư cấu, lấy chức năng thông tin - thời sự làm mục tiêu tối thượng.
- Phóng sự văn học (Literary Reportage): Thực hiện đồng thời chức năng phản ánh - thông tin - thẩm mĩ, dung hợp giữa cái Tôi nhân chứng điều tra với cái Tôi tư tưởng, sử dụng các thủ pháp tu từ, xây dựng hình tượng nghệ thuật và khắc họa tâm lý nhân vật để đạt sức khái quát hóa xã hội.
- Tiểu thuyết phóng sự (Reportage-Novel): Hình thái lai ghép trung gian, trong đó cốt truyện và tuyến nhân vật được hư cấu hóa trên nền tảng tư liệu sự kiện có thật.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp ba hướng tiếp cận liên ngành: Thi pháp học cấu trúc - hệ thống, Xã hội học văn học và Phong cách học ngôn ngữ. Khung phân tích vận hành trên 4 chiều kích cốt lõi:
Boundary conditions của khung phân tích được xác định rõ: Áp dụng cho các thể văn xuôi phi hư cấu (non-fiction) và văn xuôi tư liệu nghệ thuật trong bối cảnh các nền văn học chuyển đổi từ trung đại sang hiện đại ở các quốc gia thuộc địa và nửa thuộc địa.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Công trình áp dụng hệ hình nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với thông diễn học phê bình (Critical Hermeneutics). Thiết kế nghiên cứu đa tầng bao quát:
- Tầng vĩ mô: Khảo sát lịch sử xã hội Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945, sự hình thành các đô thị thuộc địa và phong trào âu hóa.
- Tầng trung mô: Phân tích thể loại học so sánh, đối chiếu thi pháp phóng sự của Vũ Trọng Phụng với các cây bút cùng thời (Tam Lang, Ngô Tất Tố, Trọng Lang).
- Tầng vi mô: Phân tích thi pháp văn bản, giải mã cấu trúc ngôn ngữ học, ngữ dụng học và hệ thống từ vựng khẩu ngữ.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình nghiên cứu văn bản học và xử lý ngữ liệu được thực hiện nghiêm ngặt qua 4 bước:
- Sưu tầm, thẩm định và đối sánh văn bản gốc của 5 thiên phóng sự chính trên các tờ báo tiền chiến (Nhật Tân, Hà Nội báo, Tương Lai, Tiểu thuyết thứ bẩy), loại trừ các biến dạng văn bản do in lậu hoặc chỉnh sửa qua các giai đoạn lịch sử.
- Thiết lập quy trình tam giác hóa phương pháp (Methodological Triangulation), phối hợp giữa phương pháp lịch sử - loại hình, phương pháp tiếp cận hệ thống và phương pháp thi pháp học tác gia.
- Khảo sát liên ngành báo chí học và văn học sử với hệ thống tham chiếu 195 tài liệu khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước.
- Kiểm định độ tin cậy của các luận điểm thông qua việc trích xuất và phân loại toàn bộ hệ thống dẫn chứng từ văn bản gốc.
Data và phân tích
Hệ thống dữ liệu phân tích bao gồm hàng ngàn trang tư liệu gốc của 8 thiên phóng sự và 141 công trình phê bình đối sánh. Luận án tiến hành phân loại và thống kê định lượng các trường từ vựng đặc thù:
- Trường từ vựng khẩu ngữ và tiếng lóng nghề nghiệp: Phân tích chi tiết hệ thống tiếng lóng cờ bạc bịp trong Cạm bẫy người (bài tẩy, chim mồi, đòn xóc, móc túi), ngôn ngữ bồi và từ ngữ sinh lý học trong Kĩ nghệ lấy Tây và Lục xì, khẩu ngữ bình dân thôn quê của giới người ở trong Cơm thầy cơm cô.
- Phân tích cú pháp và ngữ điệu: Thống kê tần suất xuất hiện của các cấu trúc câu cảm thán, câu hỏi tu từ, các đoạn văn giễu nhại và mô hình đối thoại đa giọng điệu, chứng minh sự áp đảo của phong cách khẩu ngữ hóa so với văn phong biền ngẫu thời kỳ trước.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Bản chất của sự chuyển dịch thể loại: Vũ Trọng Phụng là người đầu tiên tại Việt Nam nâng tầm phóng sự từ hình thức thông tin báo chí đơn giản lên tầm cao của phóng sự văn học nghệ thuật. Ông không chỉ trả lời câu hỏi 6Wh mà biến mỗi "vấn đề thời sự" thành một "câu chuyện có kịch tính", xây dựng nên một "quần thể nhân vật sống động" mang tính điển hình xã hội cao.
- Giải phẫu hiện thực và bi kịch tha hóa: Bức tranh hiện thực trong phóng sự họ Vũ không dừng lại ở bề mặt hiện tượng mà đi sâu phơi bày cơ chế tha hóa của con người dưới ma lực của đồng tiền. Các tác phẩm đã bóc trần những tệ nạn trầm kha: nạn cờ bạc bịp lừa lọc (Cạm bẫy người), sự tha hóa nhân phẩm của những me Tây vì sinh kế (Kĩ nghệ lấy Tây), số phận bế tắc, cơ cực của đội quân người ở (Cơm thầy cơm cô), và thảm trạng trụy lạc, bệnh tật tại nhà khám gái điếm (Lục xì).
- Đánh giá khoa học về yếu tố tự nhiên chủ nghĩa: Luận án chứng minh một cách thuyết phục rằng yếu tố tự nhiên chủ nghĩa và các chi tiết sinh lý trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng không phải là sự suy đồi đạo đức hay "khiêu dâm" như Nhất Linh hay Thái Phỉ từng quy kết. Đó là hệ quả của lập trường tả thực triệt để, dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật kết hợp với ảnh hưởng của thuyết phân tâm học Sigmund Freud và chủ nghĩa tự nhiên Émile Zola sơ kỳ.
- Thi pháp trào phúng và nghệ thuật giễu nhại: Khám phá sự kết hợp độc nhất vô nhị giữa chất phóng sự điều tra và bút pháp trào phúng sắc lạnh. Tác giả sử dụng nghệ thuật biếm họa, phóng đại nghịch dị (grotesque) và giọng điệu giễu nhại cay đắng để vạch trần bộ mặt giả dối của xã hội thực dân nửa phong kiến.
- Cách mạng ngôn ngữ văn xuôi: Luận án chỉ ra đóng góp mang tính khai phóng của Vũ Trọng Phụng trong việc hiện đại hóa ngôn ngữ văn xuôi tiếng Việt. Bằng cách tích hợp nhuần nhuyễn lớp từ vựng khẩu ngữ đường phố, thành ngữ dân gian và hệ thống câu văn hiện đại linh hoạt, ông đã phá vỡ hoàn toàn tính chất ước lệ, trang nghiêm của văn học truyền thống.
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận: Bổ sung cho hệ thống lý luận văn học Việt Nam mô hình phân tích thi pháp phóng sự văn học, làm sáng tỏ tính lai ghép thể loại trong văn học thuộc địa.
- Về mặt phương pháp luận: Cung cấp phương pháp phân tích tích hợp giữa văn bản học, thi pháp học và ngôn ngữ học ứng dụng cho việc nghiên cứu thể kí và văn xuôi phi hư cấu.
- Về mặt thực tiễn báo chí: Định hướng cho thể loại phóng sự điều tra đương đại về kỹ năng thâm nhập hiện trường, năng lực thu thập và xử lý tài liệu "người thật, việc thật", kết hợp thông tin chuẩn xác với nghệ thuật tự sự lôi cuốn.
- Về mặt giáo dục và văn hóa: Cung cấp cơ sở khoa học xác đáng cho việc giảng dạy, tái thẩm định vị thế tác gia Vũ Trọng Phụng trong chương trình ngữ văn đại học và trung học phổ thông.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn thừa nhận một số giới hạn học thuật khách quan:
- Giới hạn tư liệu văn bản học do 3 thiên phóng sự (Dân biểu và dân biểu, Đời cạo giấy, Vẽ nhọ bôi hề) bị thất lạc văn bản hoặc xuất bản dở dang dưới chế độ kiểm duyệt thực dân, khiến việc khảo sát diện mạo toàn bộ 8 tác phẩm chưa đạt mức độ tuyệt đối.
- Giới hạn về công cụ kỹ thuật tại thời điểm nghiên cứu (1999), chưa thể ứng dụng các phương pháp ngôn ngữ học điện toán (Computational Linguistics) và phân tích ngữ liệu số (Corpus Stylistics) để lượng hóa toàn diện tần suất từ vựng.
- Phạm vi đối sánh văn học quốc tế chủ yếu tập trung vào các trường hợp kinh điển của văn học Pháp, Nga, Mỹ mà chưa mở rộng đối sánh sâu với trào lưu "Văn học báo cáo" (Reportage Literature) tại Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản) thập niên 1930.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda) mở ra các định hướng:
- Phục dựng văn bản học các tư liệu thất lạc thông qua việc tìm kiếm tại các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Thư viện Quốc gia Pháp (BnF).
- Ứng dụng công nghệ Nhân văn số (Digital Humanities) để lập bản đồ từ vựng và phân tích mạng lưới nhân vật trong toàn bộ trước tác của Vũ Trọng Phụng.
- Nghiên cứu so sánh liên văn hóa giữa phóng sự Vũ Trọng Phụng với trào lưu "Báo chí mới" (New Journalism) của Mỹ trong thập niên 1960.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án tạo ra tác động sâu rộng trên nhiều bình diện:
- Tác động học thuật: Trở thành công trình nghiên cứu chuyên sâu hệ thống đầu tiên về thể phóng sự của Vũ Trọng Phụng, cung cấp hệ quy chiếu lý luận cho hàng loạt luận văn, luận án và công trình nghiên cứu văn học sử giai đoạn sau 2000.
- Định hình giáo dục: Cung cấp luận cứ vững chắc để khẳng định vị thế "ông vua phóng sự" trong giáo trình văn học Việt Nam tại các trường đại học sư phạm và khoa học xã hội nhân văn trên cả nước.
- Giá trị văn hóa - xã hội: Khôi phục danh dự và tôn vinh xứng đáng một thiên tài văn học từng chịu nhiều oan khiên trong lịch sử phê bình, góp phần thúc đẩy tinh thần dân chủ và khoa học trong nghiên cứu di sản văn hóa dân tộc.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận một mô hình mẫu mực về phương pháp nghiên cứu thi pháp thể loại và quy trình xử lý tư liệu văn bản học.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu văn học: Nắm bắt khung lý thuyết hoàn chỉnh để phân định phóng sự báo chí và phóng sự văn học, cùng hệ thống dẫn chứng xác thực về tác phẩm Vũ Trọng Phụng.
- Phóng viên và nhà báo hiện đại: Rút ra bài học nghề nghiệp vô giá về kỹ năng điều tra thực tế, trách nhiệm xã hội và nghệ thuật sử dụng ngôn từ sống động để sáng tạo các tác phẩm báo chí xung kích.
- Độc giả và công chúng yêu văn học: Có được cái nhìn toàn diện, khoa học và khách quan để thấu hiểu trọn vẹn giá trị tư tưởng và nghệ thuật của "ông vua phóng sự đất Bắc".
Câu hỏi chuyên sâu
-
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của nghiên cứu là gì? Đóng góp độc đáo nhất là việc luận án đã tường minh hóa ranh giới bản thể luận giữa "phóng sự báo chí" và "phóng sự văn học". Luận án chứng minh rằng phóng sự Vũ Trọng Phụng đã vượt thoát khỏi khuôn khổ thông tin 6Wh đơn thuần để tiến thẳng vào địa hạt văn học nghệ thuật thông qua cơ chế thẩm mĩ hóa tư liệu, tiểu thuyết hóa cốt truyện và xây dựng thế giới nhân vật đa tầng.
-
Tính đổi mới trong phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây? So với lối phê bình ấn tượng chủ quan của giai đoạn 1933 - 1944 hay lối phê bình xã hội học dung tục giai đoạn 1945 - 1985, luận án đã đổi mới toàn diện khi kết hợp phương pháp luận duy vật lịch sử với thi pháp học hiện đại và phong cách học ngôn ngữ, khảo sát tác phẩm như một chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn.
-
Phát hiện bất ngờ và giàu sức thuyết phục nhất từ dữ liệu? Phát hiện mang tính bước ngoặt là việc giải mã thành công hiện tượng "dâm uế" và "tự nhiên chủ nghĩa". Dữ liệu văn bản chứng minh các chi tiết mô tả sinh lý và bệnh tật trong Lục xì hay Kĩ nghệ lấy Tây xuất phát từ trách nhiệm xã hội của ngòi bút điều tra muốn mổ xẻ tận gốc tệ nạn để thức tỉnh lương tri, hoàn toàn đối lập với mục đích khiêu dâm thương mại.
-
Luận án có cung cấp quy trình tái kiểm chứng dữ liệu văn bản học không? Công trình thiết lập quy trình kiểm chứng chéo chặt chẽ giữa các bản in gốc trên nhật báo, tuần báo thời tiền chiến với các ấn bản tái bản thời kỳ Đổi Mới, mã hóa rõ ràng từng ngữ liệu trích dẫn theo số trang và năm xuất bản cụ thể trong danh mục 195 tài liệu tham khảo.
-
Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình ra sao? Luận án định hình chương trình nghiên cứu tiếp nối tập trung vào việc đối sánh thi pháp thể loại phóng sự Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945 với trào lưu phóng sự văn học thế giới, mở rộng khảo sát tương tác thể loại giữa phóng sự và tiểu thuyết trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Vũ Trọng Phụng.
Kết luận
- Khẳng định Vũ Trọng Phụng là cây bút phóng sự xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại, người có công đầu trong việc hoàn thiện và đưa thể phóng sự văn học đạt đến đỉnh cao nghệ thuật cổ điển.
- Thiết lập thành công mô hình lý luận phân định phóng sự báo chí và phóng sự văn học, đóng góp luận điểm quan trọng cho thi pháp học thể loại tại Việt Nam.
- Giải mã toàn diện cấu trúc hiện thực đen tối và thế giới quan nhân đạo sâu sắc của tác giả, đập tan những định kiến lịch sử sai lầm về "văn chương dâm uế" hay "chủ nghĩa tự nhiên đồi trụy".
- Khám phá hệ thống thi pháp độc đáo gồm: nghệ thuật khai thác tư liệu thực tế, tính chất tiểu thuyết hóa, nghệ thuật biếm họa trào phúng và phong cách giễu nhại đanh thép.
- Chứng minh vai trò tiên phong của tác giả trong cuộc cách mạng hiện đại hóa ngôn ngữ văn xuôi thông qua việc đưa khẩu ngữ đường phố và tiếng lóng vào cấu trúc văn bản nghệ thuật.
- Mở ra các hướng nghiên cứu mới về văn học tư liệu, thi pháp học so sánh và đặt nền móng vững chắc cho việc bảo tồn, phát huy di sản văn học vô giá của "ông vua phóng sự" Vũ Trọng Phụng.