Đặt vấn đề, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trình bày cơ sở lý luận áp dụng cho vấn đề nghiên cứu, các khái niệm, những vấn đề có liên quan đến công tác thu hồi đất. Các kết quả nghiên cứu trước đây về tác động của thu hồi đất đến sinh kế hộ dân. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Trình bày cách tiến hành và thực nghiệm nghiên cứu, khung phân tích, công cụ và mô hình áp dụng trong phân tích đánh giá tác động.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Tóm tắt kết quả nghiên cứu, tổng quan về sinh kế của hộ dân sau thu hồi đất thuộc dự án. Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách Rút ra một số kết luận từ kết quả nghiên cứu, từ đó đề xuất một số khuyến nghị chính sách nhằm đảm bảo sinh kế bền vững hộ dân sau thu hồi đất, nêu lên những hạn chế của đề tài và gợi ý cho nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Một số khái niệm: Luật Đất đai 1993, Luật Đất đai sửa đổi 2003 và gần đây nhất là Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 Nhà nước giao đất cho người dân có đầy đủ các quyền như quyền sử dụng, chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế, cho thuê và thế chấp.
Người được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được nhà nước bồi thường nếu như Nhà nước thu hồi lại đất đã giao cho người dân2. Khái niệm thu hồi đất Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai3. Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong các trường hợp như: Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải; dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải4.2 Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất Theo Nghị định 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ về bồi thường thiệt hại và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì người bị thu hồi đất là tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất, bị thiệt hại tài sản gắn liền với đất bị thu hồi được bồi thường đất, tài sản, được hỗ trợ và bố trí tái định cư. 2 Khoản 6 Điều 166 Luật Đất đai sửa đổi năm 2013.
3 Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 4 Khoản 2 tiết c và Khoản 3 tiết b Điều 62Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất5. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển6.3 Đền bù Là khái niệm dùng để chỉ sự “đền trả” lại những thiệt hại do một hoạt động của một chủ thể gây ra. Khái niệm “đền bù” xuất hiện từ Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 19937 Từ khi Luật Đất đai năm 1993 được sửa đổi bổ sung năm 2001, Quốc hội đã thống nhất cụm từ “bồi thường” thay cho “đền bù”, “đền bù thiệt hại”. Hiện nay, mặc dù Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn không còn sử dụng khái niệm đền bù, mà thay vào đó là các khái niệm bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Tuy nhiên, Luật Xây dựng năm 2003 vẫn còn sử dụng khái niệm đền bù8. Chính vì vậy, các phương tiện thông tin đại chúng vẫn còn sử dụng cụm từ “đền bù” để chỉ tập hợp pháp luật và chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.4 Cơ sở tính toán lập phương án bồi thường tại dự án: Phương án bồi thường và hỗ trợ tái định cư của dự án được thực hiện trên cơ sở áp dụng các văn bản quy định của Nhà nước như: Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ về qui định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu naại về đất đai; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ về qui định bổ sung quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Quyết định số 36/2010/QĐ-UBND ngày 5 Khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai sửa đổi năm 2013. 6 Khoản 14 Điều 3 Luật Đất đai sửa đổi năm 2013. 7 Khoản 5 Điều 49 Luật Đất đai năm 1987, Điều 27 Luật Đất đai năm 1993.
8 Xem Điều 70, 71, 74, 121 Luật Xây dựng năm 2003. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 28/12/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc ban hành Bảng giá các loại đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2012 và Quyết định số 22/2011/QĐ- UBND ngày 12/8/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc ban hành Quy định về chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Khung lý thuyết về sinh kế bền vững: 2.1 Khái niệm về sinh kế bền vững: Khái niệm sinh kế (livelihood): Sinh kế có thể được hiểu và sử dụng theo nhiều cách khác nhau. Tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển, lần đầu tiên khái niệm sinh kế (livelihood) được đưa ra (Krantz, 2001).
Năm 1992, Robert Chambers một nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu về phát triển Sussex - Vương quốc Anh và Gordon Conway đã đề xuất khái niệm về sinh kế bền vững theo đó: Sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản và các hoạt động cần thiết để đảm bảo cuộc sống của con người. Sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể ứng phó và phục hồi trước những cú sốc, thậm chí có thể duy trì hoặc nâng cao năng lực và tài sản của mình trong hiện tại và cung cấp cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ tương lai, trong khi không hủy hoại tài nguyên thiên nhiên, có thể đóng góp lợi ích ròng thu được cho sinh kế nơi khác trong ngắn hạn cũng như dài hạn (Chambers & Conway, 1992). Viện nghiên cứu phát triển (IDS) và Bộ phát triển toàn cầu Vương quốc Anh (DFID) với cách tiếp cận mới nghiên cứu và đưa ra khái niệm sinh kế bao gồm những năng lực, tài sản (cả nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết cho phương tiện sinh sống. Sinh kế là bền vững khi nó có thể ứng phó và phục hồi trước những cú sốc gặp phải, không chỉ vậy mà nó còn có thể duy trì và nâng cao những năng lực và tài sản của mình, trong khi không hủy hoại tài nguyên thiên nhiên (Scoones, 1998).
Một sinh kế bền vững khi nó có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 tương lai trong khi không làm ảnh hưởng đến nguồn lực tự nhiên (Hanstad et al. Tài sản là cái mà con người có thể sở hữu và có thể tạo ra thu nhập. Trong khung phân tích sinh kế DFID thì tài sản bao gồm vốn xã hội, vốn con người, vốn vật chất, vốn tự nhiên và vốn tài chính (DFID, 1999). DFID’ Sustainable Livelihoods Guidance Sheets đã định nghĩa các loại vốn tài sản vừa nêu như sau: Vốn con người bao gồm các kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khỏe tốt cùng nhau cho phép mọi người để theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của họ.
Ở cấp độ hộ thì vốn con người là yếu tố về số lượng và chất lượng lao động, yếu tố này khác nhau tùy thuộc vào học vấn, tay nghề, năng lực quản lý, sức khỏe, tri thức về cấu trúc sở hữu chính thống, phi chính thống. Vốn xã hội là tất cả nguồn lực xã hội mà có thể giúp con người kiếm sống được. Như vậy vốn xã hội có thể hiểu là: mạng lưới mối quan hệ mà con người có thể làm tăng sự tin cậy lẫn nhau, cơ hội việc làm hay sự biết đến các cơ quan, tổ chức một cách rộng rãi hơn. Việc tham gia các tổ chức xã hội nghề nghiệp và có mối quan hệ rộng giúp các cá nhân dễ dàng tiếp nhận thông tin mới, tăng độ tin cậy và hiểu biết lẫn nhau cũng như giảm chi phí giao dịch.
Vốn tự nhiên là cụm từ để chỉ các nguồn lực tự nhiên sẵn có mà con người có thể khai thác và sử dụng nó. Có một sự khác biệt lớn trong các nguồn lực tạo nên nguồn vốn tự nhiên, từ hàng hóa công cộng vô hình như không khí và đa dạng sinh học đến các tài sản có thể sử dụng trực tiếp cho sản xuất (cây cối, đất đai, sông, suối, ao hồ v. Vốn vật chất bao gồm tài sản mà con người tạo ra, bao gồm các cơ sở hạ tầng, chẳng hạn như mạng lưới đường bộ, điện, trạm xá và bệnh viện, trường học, các phương tiện tiếp cận thông tin, các công cụ, phương tiện sản xuất, hàng hóa và thị trường nhằm giúp hỗ trợ cho sinh kế của người dân. Vốn tài chính tức là nguồn tiền mà hộ gia đình có thể dùng để tạo ra thu nhập cho gia đình của họ.
Nguồn vốn có thể có từ việc hộ gia đình đã tích luỹ qua TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 nhiều năm dưới dạng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, trái phiếu, cổ phiếu hoặc bằng vàng.