Tổng quan nghiên cứu

Tính đến cuối năm 2009, hệ thống tín dụng hợp tác tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ với 1.037 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở và Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương sở hữu 24 chi nhánh tại 56 tỉnh, thành phố, quản lý tổng nguồn vốn hoạt động đạt 20.542 tỷ đồng. Tại tỉnh Tiền Giang, địa bàn trọng điểm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long nơi có 86,2% dân số sống tại khu vực nông thôn và 35.409 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 8% tổng số hộ năm 2009), nhu cầu vốn phục vụ sản xuất hàng hóa và đẩy lùi nạn cho vay nặng lãi luôn mang tính cấp bách. Mặc dù 14 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở tại tỉnh đã tích cực giải ngân vốn đến các hộ gia đình, năng lực tài chính và trình độ quản trị của các quỹ vẫn còn nhiều hạn chế. Nguồn vốn hoạt động bình quân của một quỹ tại Tiền Giang năm 2009 chỉ đạt 14.081 triệu đồng, thấp hơn nhiều so với mức bình quân 28.390 triệu đồng của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là nhận diện những rào cản nội tại kìm hãm quy mô và chất lượng hoạt động của hệ thống quỹ cơ sở. Mục tiêu cụ thể của luận văn là phân tích thực trạng hoạt động của 14 quỹ tín dụng cơ sở trên địa bàn tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2005 - 2009, rút ra các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân cốt lõi. Từ đó, tác giả xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao toàn diện năng lực tài chính, quản trị rủi ro và chất lượng nhân sự theo định hướng chiến lược đến năm 2015 và 2020, hướng tới mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới mức 2% và mở rộng độ bao phủ vốn tín dụng cho hơn 85% cư dân nông thôn trên địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết kinh tế hợp tác và mô hình hợp tác xã tín dụng truyền thống của Schulze-Delitzsch và Raiffeisen, kết hợp cùng lý thuyết bất cân xứng thông tin của Stiglitz và Weiss trong thị trường tín dụng vi mô nông thôn. Các lý thuyết này nhấn mạnh mục tiêu hoạt động mang tính xã hội sâu sắc với phương châm tương trợ giữa các thành viên và lấy việc hỗ trợ thành viên làm trung tâm, không thuần túy chạy theo lợi nhuận tối đa. Luận văn làm rõ 4 khái niệm nền tảng: quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, năng lực tài chính, chất lượng tín dụng và năng lực quản trị điều hành. Về mô hình tổ chức, hệ thống vận hành theo cấu trúc liên kết hai cấp độc lập về tư cách pháp nhân gồm cấp cơ sở và Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương theo khuôn khổ Luật Hợp tác xã năm 2003, Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2004) và Nghị định số 48/2001/NĐ-CP. Quỹ Trung ương giữ vai trò điều hòa vốn và cung ứng dịch vụ ngân hàng hỗ trợ mạng lưới, giúp các pháp nhân cơ sở tại địa phương khắc phục tình trạng thiếu hụt thanh khoản cục bộ thông qua hệ thống 24 chi nhánh trên phạm vi cả nước.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ đối với cỡ mẫu gồm 14 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. Lý do lựa chọn toàn bộ 100% quần thể nghiên cứu nhằm triệt tiêu hoàn toàn sai số chọn mẫu, phản ánh bức tranh chân thực và toàn diện về năng lực tài chính cũng như thực trạng nhân sự tại từng địa phương như huyện Cai Lậy, Cái Bè, Chợ Gạo và thành phố Mỹ Tho. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thức từ báo cáo giám sát tài chính và hồ sơ thanh tra của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Tiền Giang trong giai đoạn 5 năm từ 2005 đến ngày 31/12/2009. Tác giả kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng với các kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian và phương pháp chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng. Việc phối hợp các phương pháp này giúp lượng hóa chính xác nhịp độ tăng trưởng nguồn vốn từ mức 92.204 triệu đồng năm 2005 lên 197.141 triệu đồng năm 2009, bóc tách cơ cấu tài chính nội tại và đánh giá khoa học tác động của biến động lãi suất thị trường lên kết quả kinh doanh của các quỹ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô nguồn vốn của các quỹ cơ sở tại Tiền Giang tăng trưởng nhanh nhưng nội lực tài chính còn mỏng. Trong giai đoạn 2005 - 2009, tổng nguồn vốn hoạt động tăng 2,1 lần, từ 92.204 triệu đồng lên 197.141 triệu đồng. Nguồn vốn huy động tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng áp đảo 83,2% vào năm 2009 với 164.684 triệu đồng. Tuy nhiên, vốn điều lệ bình quân chỉ đạt 506 triệu đồng/quỹ, quỹ thấp nhất chỉ có 121 triệu đồng, thấp hơn nhiều so với mức bình quân 1.545 triệu đồng của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và 969 triệu đồng của cả nước.

Thứ hai, doanh số cho vay mở rộng liên tục, dòng vốn tập trung chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp. Trong 5 năm, 14 quỹ đã giải ngân cho 62.589 lượt hộ thành viên với tổng doanh số đạt 1.050.585 triệu đồng. Tổng dư nợ tín dụng đến cuối năm 2009 đạt 168.979 triệu đồng, trong đó cho vay ngắn hạn chiếm tỷ lệ áp đảo 95%. Cơ cấu đầu tư bám sát nhu cầu sản xuất nông nghiệp với 44,2% dư nợ, ngành nghề nông thôn chiếm 26,4% và thương nghiệp chiếm 12,9%.

Thứ ba, chất lượng tín dụng nhìn chung lành mạnh hơn các ngân hàng thương mại nhưng tiềm ẩn nguy cơ nợ xấu cục bộ. Năm 2009, tỷ lệ nợ xấu của 14 quỹ chỉ ở mức 0,40% (tương ứng 681 triệu đồng), thấp hơn mức 1,53% của 30 tổ chức tín dụng trên địa bàn. Tuy nhiên, rủi ro phân hóa mạnh giữa các đơn vị khi Quỹ tín dụng nhân dân Nhị Mỹ có nợ xấu lên đến 3,6%, vượt giới hạn an toàn 3% theo quy định chung.

Thứ tư, chất lượng đội ngũ cán bộ và năng lực quản trị điều hành còn nhiều bất cập lớn. Toàn bộ 14 quỹ có 150 cán bộ nhưng chỉ có 9 người tốt nghiệp đại học (chiếm 6%) và 34 người có trình độ trung cấp hoặc cao đẳng. Đáng lưu ý, có tới 33/50 thành viên Hội đồng quản trị và 25/34 cán bộ Ban kiểm soát chưa đạt chuẩn trình độ quy định. Riêng chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị có 10/14 người chưa đạt chuẩn bằng cấp hoặc chưa qua đào tạo nghiệp vụ theo Quyết định số 31/2006/QĐ-NHNN.

Thảo luận kết quả

Kết quả kinh doanh của các quỹ đã thể hiện được nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí, có tích luỹ với tổng lợi nhuận năm 2009 đạt 2.779 triệu đồng, tỷ suất sinh lời trên vốn điều lệ đạt 39,24%. Tuy nhiên, mức độ tổn thương trước biến động thị trường tiền tệ là rất lớn. Tình trạng Quỹ tín dụng nhân dân Đăng Hưng Phước bị lỗ 75 triệu đồng năm 2009 xuất phát từ việc huy động vốn kỳ hạn dài với lãi suất cao trong năm 2008 nhưng phải giảm nhanh lãi suất cho vay theo chính sách hỗ trợ kinh tế năm 2009. Đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, hệ thống ngân hàng hợp tác xã tại Đức quản lý 2.500 đơn vị cơ sở với tỷ lệ an toàn vốn luôn duy trì trên 8% tài sản rủi ro, còn hệ thống Desjardins tại Canada phát huy hiệu quả của Quỹ an toàn hệ thống vững chắc. Trong khi đó, các quỹ tại Tiền Giang hoàn toàn chưa phát triển các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt và thiếu công cụ bảo toàn thanh khoản. Dữ liệu thực nghiệm này có thể được mô tả hiệu quả thông qua biểu đồ cột chồng thể hiện sự dịch chuyển tỷ trọng 3 nguồn vốn chính (vốn điều lệ, tiền gửi và vốn vay) qua các năm, kết hợp cùng bảng ma trận phân loại trình độ cán bộ quản trị để nhận diện trực quan khoảng cách năng lực cần kiện toàn.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, củng cố năng lực tài chính và nâng cao quy mô vốn điều lệ. Hội đồng quản trị các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở cần vận động thành viên tăng vốn góp thường xuyên, phấn đấu nâng mức vốn điều lệ bình quân đạt tối thiểu 1.000 triệu đồng/quỹ trước năm 2015. Đồng thời, xây dựng chính sách lãi suất tiền gửi linh hoạt, duy trì thị phần huy động vốn tại chỗ chiếm trên 85% tổng nguồn vốn hoạt động hàng năm.

Hai là, tái cơ cấu danh mục tín dụng và kiểm soát chặt chẽ chất lượng nợ. Ban điều hành các quỹ cần siết chặt quy trình thẩm định tài sản bảo đảm và phương án kinh doanh, kiên quyết khống chế tỷ lệ nợ xấu dưới 2% trong giai đoạn 2010 - 2015. Bên cạnh đó, từng bước nâng tỷ trọng dư nợ cho vay trung hạn từ mức 5% hiện tại lên khoảng 10% đến năm 2015 để hỗ trợ thành viên đầu tư kinh tế vườn và nuôi trồng thủy sản.

Ba là, chuẩn hóa toàn diện trình độ đội ngũ cán bộ quản trị và điều hành. Hội đồng quản trị phối hợp cùng Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Tiền Giang triển khai kế hoạch đào tạo bắt buộc, bảo đảm 100% cán bộ chủ chốt (Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc, Trưởng Ban kiểm soát) đạt chuẩn chuyên môn từ trung cấp ngân hàng trở lên trước năm 2013, phấn đấu đến năm 2020 có tối thiểu 50% cán bộ nghiệp vụ đạt trình độ đại học.

Bốn là, phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng phi tín dụng. Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương và Hiệp hội Quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam cần chuyển giao nền tảng công nghệ, hỗ trợ 14 quỹ cơ sở tại Tiền Giang triển khai dịch vụ chuyển tiền nhanh nội bộ và chi trả kiều hối từ năm 2012, chấm dứt tình trạng phụ thuộc hoàn toàn vào lưu thông tiền mặt.

Năm là, tăng cường hiệu lực thanh tra, giám sát từ cơ quan quản lý. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Tiền Giang cần định kỳ thanh tra toàn diện 100% các quỹ cơ sở mỗi năm một lần, phối hợp với chính quyền 10 huyện, thành thị nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu vi phạm nguyên tắc hợp tác xã và ngăn chặn tình trạng thao túng tín dụng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và Ngân hàng Nhà nước chi nhánh các tỉnh, thành phố. Dữ liệu thực chứng và hệ thống chỉ tiêu phân tích trong công trình là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách hoàn thiện khung khổ pháp lý, nâng cao hiệu quả thanh tra giám sát đối với hơn 1.000 quỹ tín dụng cơ sở trên toàn quốc.

Thứ hai, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và Ban kiểm soát các quỹ tín dụng nhân dân. Lãnh đạo các quỹ có thể ứng dụng trực tiếp bài học kinh nghiệm về cân đối kỳ hạn nguồn vốn, phương pháp quản trị rủi ro nợ xấu và giải pháp nâng vốn điều lệ từ mức 506 triệu đồng lên mức an toàn theo chuẩn mực ngành.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học khối ngành Tài chính - Ngân hàng. Luận văn cung cấp bộ dữ liệu thứ cấp chuẩn xác kéo dài 5 năm (2005 - 2009) về tài chính vi mô và tín dụng hợp tác tại Đồng bằng sông Cửu Long, phục vụ làm tư liệu giảng dạy và nghiên cứu mở rộng.

Thứ tư, Hiệp hội Quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam và các tổ chức phát triển nông thôn. Nghiên cứu mang lại các luận cứ khoa học để xây dựng chiến lược phát triển mạng lưới liên kết hai cấp, thiết lập cơ chế bảo đảm an toàn hệ thống và tổ chức các chương trình đào tạo nghiệp vụ chuẩn hóa đến năm 2020.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Điểm khác biệt căn bản giữa mô hình Quỹ tín dụng nhân dân và Hợp tác xã tín dụng kiểu cũ trước năm 1990 là gì?
Trả lời: Hợp tác xã tín dụng trước năm 1990 thành lập theo phong trào, quản lý lỏng lẻo và bao cấp, dẫn đến việc hơn 2.000 hợp tác xã bị đổ vỡ. Ngược lại, Quỹ tín dụng nhân dân vận hành theo Luật Các tổ chức tín dụng với nguyên tắc tự nguyện, tự chịu trách nhiệm kinh tế, có sự điều hòa vốn của Quỹ Trung ương và chịu sự giám sát an toàn từ Ngân hàng Nhà nước.

Câu hỏi 2: Vì sao nguồn vốn hoạt động của các quỹ cơ sở tại Tiền Giang thấp hơn bình quân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long?
Trả lời: Năm 2009, vốn bình quân một quỹ tại Tiền Giang đạt 14.081 triệu đồng, thấp hơn mức 28.390 triệu đồng của khu vực do mức vốn điều lệ tích lũy còn mỏng (bình quân 506 triệu đồng/quỹ) và thành viên đóng góp vốn chưa nhiều. Bên cạnh đó, mạng lưới 10 chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn cạnh tranh quyết liệt về lãi suất huy động.

Câu hỏi 3: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống quỹ cơ sở tại Tiền Giang có thực sự an toàn?
Trả lời: Tỷ lệ nợ xấu của 14 quỹ năm 2009 chỉ ở mức 0,40% (tương ứng 681 triệu đồng), thấp hơn mức 1,53% của toàn tỉnh Tiền Giang. Tuy nhiên, sự an toàn này chưa đồng đều khi Quỹ Nhị Mỹ có nợ xấu lên đến 3,6% và kết quả thanh tra cho thấy nợ xấu thực tế qua kiểm tra trực tiếp thường cao hơn số liệu đơn vị tự báo cáo.

Câu hỏi 4: Rào cản lớn nhất đối với công tác nhân sự tại các quỹ tín dụng Tiền Giang giai đoạn này là gì?
Trả lời: Rào cản lớn nhất là sự hụt hẫng về trình độ chuyên môn chính quy. Trong số 150 cán bộ toàn tỉnh chỉ có 9 người có bằng đại học (chiếm 6%). Đặc biệt, có tới 33/50 nhân sự Hội đồng quản trị và 10/14 Chủ tịch Hội đồng quản trị chưa đạt chuẩn bằng cấp theo quy định tại Quyết định số 31/2006/QĐ-NHNN do tuổi cao hoặc đi lên từ kinh nghiệm thực tiễn.

Câu hỏi 5: Bài học kinh nghiệm quốc tế nào có giá trị ứng dụng cao nhất cho hệ thống quỹ cơ sở?
Trả lời: Bài học kinh nghiệm giá trị nhất là việc thiết lập Quỹ an toàn hệ thống vững chắc từ mô hình Desjardins của Canada để kịp thời trợ lực thanh khoản cho các quỹ gặp khó khăn, kết hợp cùng nguyên tắc duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% trên tổng tài sản có rủi ro như hệ thống 2.500 ngân hàng hợp tác xã tại Cộng hòa Liên bang Đức.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng hoạt động của 14 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở tại Tiền Giang giai đoạn 2005 - 2009, ghi nhận tổng nguồn vốn tăng trưởng 2,1 lần lên mức 197.141 triệu đồng.
  • Khẳng định vai trò to lớn của hệ thống khi giải ngân 1.050.585 triệu đồng vốn vay cho 62.589 lượt hộ nông dân, góp phần đẩy lùi nạn cho vay nặng lãi và giữ nợ xấu ở mức thấp 0,40%.
  • Nhận diện rõ nét các điểm nghẽn nội tại về quy mô vốn điều lệ khiêm tốn (506 triệu đồng/quỹ) và rào cản từ việc 33/50 nhân sự Hội đồng quản trị chưa đạt chuẩn chuyên môn theo quy định.
  • Đề xuất hệ thống 5 giải pháp trọng tâm gắn liền với lộ trình tái cơ cấu danh mục tín dụng, chuẩn hóa nhân sự trước năm 2013 và nâng vốn điều lệ bình quân đạt 1.000 triệu đồng trước năm 2015.
  • Xác định định hướng chiến lược đến năm 2020 nhằm hiện đại hóa dịch vụ phi tín dụng, hoàn thiện mô hình liên kết hai cấp và đảm bảo cho các quỹ cơ sở phát triển an toàn, bền vững.

Các cấp quản lý ngành ngân hàng cùng ban lãnh đạo từng quỹ tín dụng cơ sở cần nhanh chóng phối hợp thực hiện đồng bộ các giải pháp này nhằm củng cố năng lực tài chính và bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng nông thôn.