phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở hợp tác của sự hợp tác giữa TP. Đà Nẵng và các tỉnh Nam Lào Chƣơng 2: Tình hình hợp tác kinh tế và giáo dục giữa TP. Đà Nẵng và các tỉnh Nam Lào Chƣơng 3: Một số giải pháp thúc đẩy hợp tác giữa TP. Đà Nẵng và các tỉnh Nam Lào SVTH: Phan Thị Hải Yến 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: TS.
Nguyễn Mạnh Dũng Chƣơng 1: CƠ SỞ HỢP TÁC CỦA SỰ HỢP TÁC GIỮA TP. ĐÀ NẴNG VỚI CÁC TỈNH NAM LÀO 1. Vị trí địa lý; điều kiện kinh tế - xã hội 1. Vị trí địa lý 1.
Vị trí địa lý TP. Đà Nẵng Đà Nẵng có nguồn gốc là biến dạng của từ Chăm cổ "DAKNAN", nghĩa là vùng nƣớc rộng lớn hay "sông lớn", "cửa sông cái", là một thành phố thuộc vùng Nam Trung Bộ, Việt Nam. Đây là trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ lớn của khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Đà Nẵng hiện là một trong 15 đô thị loại 1, đồng thời là một trong 5 trực thuộc Trung ƣơng ở Việt Nam.
Đà Nẵng nằm ở trung độ của đất nƣớc, nằm trên trục giao thông Bắc - Nam về đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng biển và đƣờng hàng không, cách Thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam. Đà Nẵng gồm vùng đất liền và vùng quần đảo trên biển Đông, phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp Biển Đông. Vùng biển gồm quần đảo Hoàng Sa cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía Nam. Ngoài ra, Đà Nẵng còn là trung điểm của 4 di sản văn hoá thế giới nổi tiếng là cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và Rừng quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
Trong phạm vi khu vực và quốc tế, Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nƣớc Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các nƣớc vùng Đông Bắc Á, thông qua Hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kết thúc là Cảng biển Tiên Sa. Nằm ngay trên một trong những tuyến đƣờng biển và đƣờng hàng không quốc tế, Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững. Đà Nẵng hiện nay có tám quận, huyện với tổng diện tích tự nhiên là 1.283,42 km2; trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 241,51 km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1. Địa hình vừa có đồng bằng duyên hải vừa có đồi núi, vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, các đồi thấp xen kẽ những đồng bằng hẹp.
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, SVTH: Phan Thị Hải Yến 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Mạnh Dũng nhiệt độ cao và ít biến động. Chế độ ánh sáng, mƣa ẩm phong phú, nhiệt độ trung bình hàng năm trên 250C. Khí hậu là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam mà tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam, có 2 mùa rõ rệt là mùa mƣa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12, và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có đợt rét nhƣng không đậm và kéo dài.
Nhƣ vậy, trong phạm vi khu vực và quốc tế, Đà Nẵng có vị trí trọng yếu cả về kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh; là đầu mối giao thông quan trọng về đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng biển và đƣờng hàng không, cửa ngõ chính ra biển Đông của các tỉnh Miền Trung, Tây Nguyên và các nƣớc tiểu vùng Mê Kông. Bên cạnh đó, với các tuyến giao thông quan trọng nhƣ quốc lộ 1A, đƣờng sắt liên vận quốc tế Trung Quốc – ASEAN dự kiến đi qua cảng biển và sân bay quốc tế tạo ƣu thế về vị lý trí địa địa kinh tế cho Đà Nẵng trong tổng thể kinh tế của cả nƣớc, xứng đáng là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Tất cả những điều kiện trên đã tạo cho Đà Nẵng một lợi thế địa lý đặc biệt, thuận lợi cho vệc phát triển nhanh và bền vững. Vị trí địa lý của các tỉnh Nam Lào CHDCND Lào còn đƣợc gọi là đất nƣớc Triệu Voi, là một quốc gia duy nhất Đông Nam Á không giáp với biển.
Với diện tích 236.000 km2, đã từ lâu, ở một vị trí địa lý nằm sâu trong nội địa, có những nƣớc giáng giềng bao bọc nhƣ phía Bắc giáp Trung Quốc 416 km đƣờng biên; Tây Bắc giáp Myanmar 230 km; Tây Nam giáp Thái Lan 1.730 km; phía Nam giáp Campuchia 492 km và phía Đông giáp Việt Nam 2.067 km đƣờng biên, không có đƣờng bờ biển giao lƣu kinh tế, thế nhƣng hiện nay Lào đã có ba cây cầu hữu nghị bắc qua sông Mê Kong (Viêng Chăn, Tỉnh Champasak và Sanvannakhet nối sang Thái Lan). Những cây câu này nối nƣớc Lào với hệ thống đƣờng sắt của Thái Lan ở phía Tây và hành lang Đông Tây nối Thái Lan qua Nam Trung Lào và Việt Nam ở phía Đông, sẽ là điều kiện để phát triển quan hệ kinh tế giữa Lào với Thái Lan và Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc trong khu vực và quốc tế. Do vậy, nƣớc Lào luôn bị xung đột khu vực tác động, nƣớc Lào vẫn thƣờng đƣợc coi nhƣ một “khu đệm hành lang” hay là “địa bàn trung chuyển” của Đông Nam Á, lục địa từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống SVTH: Phan Thị Hải Yến 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Mạnh Dũng Nam và ngƣợc lại.
Ngƣời phƣơng Tây ít tin tƣởng vào triển vọng phát triển và khả năng độc lập về kinh tế (thậm chí cả chính trị và quân sự) của Lào. Các tài liệu báo chí Phƣơng Tây còn cho rằng, Lào bị gọi là “đất nƣợc bị lãng quên” (Laos- Forgotten country). Tuy nhiên, trong bối cảnh của liên kết kinh tế khu vực và quốc tế ngày càng gia tăng, đặc biệt sau khi hành kinh tế Đông Tây nối liền Thái Bình Dƣơng với Ấn Độ Dƣơng (năm 2007) thông qua lãnh thổ bốn nƣớc Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanmar và đƣờng cao tốc chạy từ Côn Minh qua Tây Bắc Lào tới Băng Cốc đã thông xe toàn tuyến (năm 2010); hành lang kinh tế Bắc Nam nối liền Nam Ninh (Trung Quốc) với Singapore chạy qua lãnh thổ Việt Nam, Lào, Thái Lan, Campuchia, Malaysia đang đƣợc vận hành thì Lào thực sự không còn cách trở với các đại dƣơng lớn cả về hƣớng Đông (phía Việt Nam) lẫn hƣớng Tây (phía Myanmar) và hƣớng Nam (phía Thái Lan). Điều này đang giúp Lào trở thành điểm trung chuyển quan trọng giữa các nƣớc Đông Nam Á lục địa với Trung Quốc, đồng thời tạo cơ hội nâng cao vị thế của Lào với tƣ cách là địa bàn cạnh tranh ảnh hƣởng giữa các nƣớc lớn và các nƣớc láng giềng gần gũi của Lào.
Vị thế địa chiến lƣợc của Lào ngày càng trở nên quan trọng và hấp dẫn. Hơn nữa, Lào là một trong những nƣớc có nguồn tài nguyên rừng tƣơng đối phong phú, nguồn khoáng sản dồi dào, tiềm năng thủy điện to lớn, diện tích đất đai màu mỡ, có nhiều địa điểm du lịch sinh thái, văn hóa – lịch sử hấp dẫn với phong tục tập quán đặc thù của văn hóa tộc ngƣời…Vị trí địa lý của nƣớc Lào cũng đem lại một vài lợi ích cho đất nƣớc Lào. Nƣớc Lào có địa hình đa dạng, gồm núi đồi, cao nguyên, thung lũng và đồng bằng, đất tự nhiên 236.800 km2, trong đó núi và cao nguyên chiếm ¾ diện tích. Căn cứ vào địa hình có thể chia thành 2 vùng địa hình lớn: Thƣợng Lào và Trung - Hạ Lào.
Nam Lào là vùng bốn tỉnh phía Nam của nƣớc CHDCND Lào bao gồm: Attapeu, Salavan, Sekong, Champasak với diện tích tự nhiên khoảng 28.675 km2, dân số năm 2002 là 482,1 nghìn ngƣời, chiếm 25,8 % diện tích tự nhiên và 11,9% dân số toàn khu vực, mật độ dân số gần 17 ngƣời/km2. Nam Lào có dân số khoảng 1,11 triệu ngƣời năm 2004, chiếm khoảng 18, 3% tổng dân số của Lào. Trong 4 tỉnh Nam Lào, tỉnh Champasak là tỉnh lớn nhất và giàu có nhất khu vực này [16; tr. SVTH: Phan Thị Hải Yến 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: TS.
Nguyễn Mạnh Dũng So với miền Trung Lào, kinh tế ở đây kém phát triển hơn do cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ phát triển kinh tế- xã hội còn thấp, dân cƣ thƣa thớt và trình độ nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, đây lại là những tỉnh có vị trí chiến lƣợc cực kỳ quan trọng ở khu vực vì nằm ở vị trí rất gần và nằm một phần trong vị trí của ngã ba Đông Dƣơng, tiếp giáp với cả Việt Nam và Campuchia lần lƣợt về phía Đông và Phía Nam, đồng thời cũng dễ dàng thông thƣơng với Thái Lan ở phía Tây qua địa bàn tỉnh Salavan hoặc tỉnh Champasak. Các tỉnh Nam Lào nằm trọn trên cao nguyên Boloven rộng lớn, Bolaven có thổ nhƣỡng và khí hậu thích hợp cho trồng cà phê (cả arabica và robusta), cao su, thuốc lá. Đây là khu vực trung lƣu của Mê Kông với một chi lƣu lớn của nó là Sekong, có tài nguyên rừng, khoáng sản phong phú, đất đai màu mỡ, rất thích hợp cho việc trồng trọt, chăn nuôi và xây dựng nền công nghiệp chế biến nông – lâm - khoáng sản.
Đây cũng chính là lợi thế vô cùng to lớn của các tỉnh Nam Lào. Tuy nhiên, việc trồng cây công nghiệp ở đây còn rất hạn chế. Ngoài ðồng bằng Attapu là một trong bảy ðồng bằng lớn nhất của Lào, có diện tích ðất tự nhiên khoảng 100.000 ha, còn có các đồng bằng nhỏ khác nhƣ Xê Kong, Xê Đôn và Xê Ka Man. Do đó, hiện nay Chính phủ Lào đang có các kế hoạch phát triển khu vực này dựa trên các hợp tác song phƣơng với các tỉnh thành có cùng chung biên giới hay giáp danh với Lào cũng nhƣ dựa trên Hành lang kinh tế Đông – Tây nối khu vực Thái Lan ở phía Tây và Việt Nam ở phía Đông.
Bởi vì, Nam Lào có năng lực chế biến nông sản dồi dào, nên mô hình hợp tác hiệu quả đã đƣợc hình thành. Ba trong bốn tỉnh Nam Lào là Attapeu, Salavan, Sekong tham gia Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia.