phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về Hộ gia đình, Hợp đồng vay tiền và Ngân hàng thương mại. Chƣơng 2: Hợp đồng vay tiền của Hộ gia đình Chƣơng 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về Hợp đồng vay tiền của Hộ gia đình tại Ngân hàng Thương mại và hướng hoàn thiện. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘ GIA ĐÌNH VÀ HỢP ĐỒNG VAY TIỀN CỦA HỘ GIA ĐÌNH 1.1 Hộ gia đình và Chính sách của Nhà nƣớc về Hộ gia đình 1.1 Khái quát chung về HGĐ trong quan hệ pháp luật Dân sự Hộ theo Từ điển tiếng Việt do Nhà xuất bản văn hóa thông tin ấn hành năm 1990 (trang 234) do Nguyễn Như Ý làm chủ biên là “Nhà, đơn vị để quản lý dân số”. Theo Từ điển luật học do Nhà xuất bản Từ điển bách khoa 2006 thì Hộ gia đình là “tập hợp nhóm người có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng”.
Như vậy, Hộ gia đình bao gồm những người cùng chung huyết tộc, ăn chung, ở chung, làm việc chung và có chung một ngân quỹ mà nòng cốt ban đầu là quan hệ hôn nhân. Kinh tế hộ đã xuất hiện từ buổi bình minh của xã hội loài người, tồn tại cho đến bây giờ và còn lâu hơn nữa. Hộ gia đình là hộ sinh sống bằng nghề nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, là đơn vị sản xuất cơ bản, sản xuất rất ổn định, là điều kiện quan trọng để tăng trưởng và phát triển kinh tế nông nghiệp. Trong cấu trúc của Hộ gia đình, các thành viên của họ gắn bó chặt chẽ với nhau trước tiên bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống tạo nên sự quan hệ chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý và sử dụng tài sản.
Trong quá trình đó, HGĐ có mối liên kết với các đơn vị khác và với xã hội. Kinh tế hộ nhìn chung là sản xuất, buôn bán nhỏ, mang tính tự cấp, tự túc hoặc sản xuất hàng hóa với năng suất lao động thấp nhưng lại có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Kinh 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tế Hộ gia đình ở Việt Nam đã xuất hiện và tồn tại hàng nghìn năm và vẫn sẽ là đơn vị cơ bản trong xã hội và trong phát triển sản xuất nông nghiệp. Hộ gia đình đang là đối tượng khách hàng rất lớn của các ngân hàng thương mại, số lượng giao dịch tài chính, tín dụng giữa các Hộ gia đình và ngân hàng/Tổ chức tín dụng ngày càng gia tăng.
Vậy xét trên khía cạnh pháp lý cần hiểu thế nào là Hộ gia đình và Hộ gia đình loại nào có thể vay vốn của Ngân hàng thương mại? Phân biệt quan hệ vay vốn giữa Hộ gia đình và cá nhân với ngân hàng ra sao? Điều 106 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”. Như vậy, Hộ gia đình có các điều kiện dưới đây sẽ có thể là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự (vay vốn, mua, bán, thuê, mượn…): - Các thành viên có tài sản chung; - Thông qua các hoạt động, công sức lao động và số tài sản chung nói trên, các thành viên của Hộ gia đình cùng tiến hành các hoạt động kinh tế chung trong việc sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định. Khái niệm tài sản chung của Hộ gia đình được hiểu theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Dân sự: “Tài sản chung của Hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của Hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của Hộ”. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tài sản chung là tài sản do các thành viên của cả Hộ tạo lập nên trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế chung và các tài sản mặc dù thuộc sở hữu cá nhân nhưng có thỏa thuận góp vào khối tài sản chung hoặc các tài sản được sử dụng vào mục đích hoạt động kinh tế chung.
Tài sản chung này gồm quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất (gồm cả đất ở và đất canh tác), rừng, rừng trồng của Hộ gia đình khi được Nhà nước giao đất canh tác, trồng rừng cho Hộ và các tài sản chung được tạo thành theo các căn cứ được quy định tại Điều 170 Bộ luật Dân sự bao gồm: do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp; được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; được thừa kế tài sản…; Hoạt động kinh tế chung có thể hiểu là việc cùng canh tác trên một thửa ruộng, cùng làm một nghề thủ công như làm giấy, in tranh, đồ mộc, đồ sành sứ, làm đồ thủ công mỹ nghệ, cùng sản xuất một loại sản phẩm… mà mỗi thành viên phụ trách một công đoạn trong quá trình sản xuất hoặc cùng tạo ra một nhóm sản phẩm và tiến hành phân phối, bán, cho thuê… và cùng được hưởng lợi từ các hoạt động kinh tế chung nêu trên. Việc hưởng lợi có thể là trực tiếp (nhận tiền, tài sản chia cho từng người) hoặc thông qua việc thụ hưởng chung các lợi ích như nhà ở, ăn uống, đi lại bằng tài sản chung. Các hoạt động đơn lẻ của thành viên Hộ gia đình như mua bán phục vụ tiêu dùng cá nhân không được coi là hoạt động của Hộ gia đình và Hộ không phải chịu trách nhiệm với hành vi của cá nhân đó. Hộ gia đình có tư cách chủ thể không rõ ràng, không đầy đủ, trọn vẹn như cá nhân và pháp nhân vì thời điểm phát sinh và chấm dứt tư cách chủ thể của Hộ gia đình là khó xác định và không rõ ràng như cá nhân, pháp nhân.
Ở cá nhân thời điểm phát sinh và chấm dứt tư cách chủ thể này được xác định theo việc khai sinh, khai tử, tuyên bố chết, mất tích… và ở pháp nhân là thời điểm Quyết định thành lập, đăng ký hoạt động và thời điểm chấm dứt (giải thể/phá sản) pháp 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Việc phân biệt quan hệ dân sự của Hộ gia đình và cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng vì từ việc này sẽ dẫn đến việc xác định nghĩa vụ và trách nhiệm của cá nhân trong Hộ trong việc trả nợ vì khi thành viên của Hộ vay với tư cách cá nhân thì chỉ có thành viên đó chịu trách nhiệm trả nợ còn nếu thành viên Hộ gia đình vay với tư cách là người đại diện cho Hộ gia đình thì trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ là của mọi thành viên đã thành niên và có khả năng lao động trong Hộ. Trách nhiệm liên đới giữa vợ chồng (thành viên chính trong HGĐ) cũng được xem như một điều mặc nhiên trong đời sống hôn nhân. Hôn nhân là cơ sở hình thành quan hệ vợ chồng, quan hệ gia đình trong mỗi hộ, là cơ sở của trách nhiệm liên đới của vợ chồng.
Các chủ thể trong quan hệ hôn nhân này luôn bị ràng buộc với nhau về các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm. Đó không chỉ là các quyền và nghĩa vụ về mặt pháp lý mà còn là các quyền và nghĩa vụ mang tính truyền thống xuất phát từ các chuẩn mực đạo đức cũng như cách ứng xử mang tính tự nhiên giữa vợ và chồng cũng như các thành viên khác trong gia đình (ông, bà, con, cháu, anh, chị, em). Từ đó buộc các bên trong quan hệ hôn nhân phải cùng liên đới chịu trách nhiệm với nhau. [8] Trách nhiệm liên đới của vợ chồng chỉ phát sinh khi những hành vi, giao dịch do vợ chồng cùng xác lập hoặc có sự thỏa thuận của vợ chồng hoặc những nghĩa vụ phát sinh nhưng gắn liền với nhu cầu thiết yếu hoặc vì đời sống chung của gia đình.
Các quy định của pháp luật cho thấy, trong quan hệ dân sự cũng như quan hệ hôn nhân gia đình, khi các chủ thể thực hiện, xác lập hành vi, hay một giao dịch thì sẽ làm phát sinh trách nhiệm liên đới của các chủ thể đó. Chẳng hạn như vợ chồng cùng xác lập giao dịch hay vợ chồng cùng có hành vi gây thiệt hại cho chủ thể khác thì vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới. Tuy nhiên, cũng do tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân nên trong trường hợp một bên thực hiện giao dịch hay các nghĩa vụ phát sinh từ hành vi của một bên nhưng vẫn làm phát sinh trách nhiệm liên đới đối với bên còn lại. Đó là trường 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hợp một bên thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình hay nghĩa vụ phát sinh từ tài sản riêng của một bên nhưng để duy trì, phát triển khối tài sản chung của gia đình, nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, định đoạt tài sản chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con gây ra,…và hầu như các giao dịch, nghĩa vụ này thường gắn liền nhu cầu thiết yếu hoặc vì đời sống chung của gia đình.
Còn nếu các giao dịch do một bên thực hiện hoặc các nghĩa vụ phát sinh đối với một bên nhưng không gắn liền với các nhu cầu và đời sống chung của gia đình thì trách nhiệm liên đới của vợ chồng cũng không được đặt ra. Để xác định các thành viên trong hộ gia đình có phải chịu trách nhiệm liên đới thì phải xác định những nhu cầu nào được xem là nhu cầu thiết yếu của gia đình. Nhu cầu thiết yếu của gia đình là những nhu cầu căn bản nhất, nhằm đảm bảo cuộc sống gia đình ở mức tối thiểu. Khoản 20 Điều 3 Luật HN & GĐ năm 2014 quy định “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình”.
Tuy nhiên, để xác định có phải nhu cầu thiết yếu hay không còn phải căn cứ vào điều kiện kinh tế của HGĐ.