Chương 1: Những vấn đề lý luận nền tảng về hợp đồng cộng đồng. Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng cộng đồng. Chương 3: Định hướng và các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cộng đồng ở Việt Nam hiện nay. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN NỀN TẢNG VỀ HỢP ĐỒNG CỘNG ĐỒNG 1.
Khái niệm và phân loại hợp đồng cộng đồng 1. Khái luận chung về hợp đồng và phân loại hợp đồng Hợp đồng có một vị trí quan trọng trong bất kỳ hệ thống pháp luật nào, nói một cách ngắn gọn đúng bản chất, là sự thống nhất ý chí nhằm tạo lập ra một hậu quả pháp lý [5, tr 18] mà có thể làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên [5, tr. Sự thống nhất ý chí thường được gọi là sự thỏa thuận. Thế nhưng cần khẳng định rằng không phải sự thoả thuận nào cũng là hợp đồng, mặc dù hợp đồng nào cũng là sự thoả thuận.
Điều đó có nghĩa thỏa thuận là một khái niệm rộng hơn khái niệm hợp đồng (như khái niệm loài với khái niệm giống), ngụ ý rằng không phải sự thỏa thuận nào cũng tạo lập ra hậu quả pháp lý, và chỉ có sự thỏa thuận tạo lập ra một hậu quả pháp lý mới là hợp đồng. Tuy thế hợp đồng có nhiều tên gọi khác nhau như: khế ước, giao kèo, thỏa ước, thỏa thuận (theo nghĩa hẹp)… Vấn đề mấu chốt là bản chất pháp lý của hợp đồng luôn luôn được xem xét dù nó được gọi bởi bất kỳ tên gọi nào khác. Nói tới hợp đồng, luật hợp đồng nói riêng và luật tư nói chung là người ta nói tới học thuyết tự do ý chí. Thực vậy hầu hết các hệ thống pháp luật đều tôn trọng ý chí của con người, có nghĩa là tôn trọng sự lựa chọn của họ trên căn bản học thuyết tự do ý chí.
Học thuyết này có hạt nhân lý luận rằng: (1) con người chỉ bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình; và (2) con người có quyền định đoạt tất cả những gì thuộc về mình [4]. Vì vậy luật tư nói chung có phương pháp điều chỉnh là phương pháp tự do thỏa thuận và tự định đoạt của các bên. Đối với hợp đồng nói riêng, tôn trọng sự thỏa thuận 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của các bên được xem là nguyên tắc quan trọng có được từ đó. Bộ luật Dân sự 1804 của Pháp có đưa ra một khẳng định nổi tiếng là: “Hợp đồng giao kết hợp pháp có giá trị như luật đối với các bên giao kết.
Hợp đồng chỉ có thể bị hủy bỏ theo thỏa thuận chung hoặc theo căn cứ do pháp luật qui định. Hợp đồng phải được thi hành một cách thiện chí. Khẳng định này tôn trọng sự thỏa thuận của các bên giao kết hợp đồng bằng cách ràng buộc các bên giao kết vào quan hệ hợp đồng và cho thi hành nó. Vì vậy người ta coi hợp đồng là nguồn pháp luật đầu tiên được xem xét để giải quyết tranh chấp hợp đồng.
Khi một người biểu lộ ý chí của mình muốn đổi sự thực hiện một công việc hoặc không thực hiện một việc gì đấy hoặc đổi một vật, một quyền lợi của mình để lấy về một sự thực hiện một công việc hoặc không thực hiện một việc gì đấy hoặc lấy một vật, một quyền lợi từ người khác nhưng không xâm hại đến trật tự công cộng, thuần phong mỹ tục hay quyền và lợi ích hợp pháp của người khác hoặc các điều kiện khác do luật định, thì hợp đồng giữa họ được tất cả mọi thực thể khác tôn trọng và không thể xâm phạm. Như trên đã nói thoả thuận là yếu tố đầu tiên của hợp đồng mà cần phải nghiên cứu trước tiên khi nói tới hợp đồng. Theo truyền thống Common Law, hợp đồng có bản chất là sự thống nhất ý chí (a meeting of minds) của các bên giao kết hợp đồng, và là yếu tố dễ gây tranh cãi nhất [13, tr. Sự thỏa thuận hay sự thống nhất ý chí có hai mảnh ghép - đó là: (1) đề nghị giao kết hợp đồng; và (2) chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Đề nghị giao kết hợp đồng luôn luôn được coi là một sự biểu lộ ý chí mong muốn tạo lập nên một sự ràng buộc trong khuôn khổ của một hợp đồng giữa bên đề nghị với 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bên được đề nghị. Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 2004 định nghĩa đề nghị giao kết hợp đồng như sau: “Một đề xuất (proposal) được gọi là đề nghị (offer) nếu nó đủ rõ ràng và thể hiện ý chí của bên đưa ra đề nghị bị ràng buộc khi đề nghị giao kết được chấp nhận” (Điều 2. Định nghĩa này không đề cập tới chủ thể của đề nghị và chủ thể của chấp nhận. Khác hơn không nhiều, Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế định nghĩa: “Một đề nghị ký kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu có đủ tính xác định và nếu nó chỉ rõ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó.
Một đề nghị là đủ tính xác định khi nó nêu rõ hàng hoá và ấn định số lượng và giá cả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc qui định thể thức xác định những yếu tố này. Định nghĩa này cho thấy đề nghị giao kết hợp đồng có hai điều kiện chủ yếu là: nêu rõ ý chí giao kết hợp đồng; và có đủ tính xác định. Tính xác định ở đây phải được hiểu là: nêu rõ đối tượng và một số điều kiện thiết yếu của hợp đồng nếu được bên được đề nghị chấp nhận. Bên được đề nghị ở đây bao gồm một hay nhiều người xác định hoặc cả thế giới.
Tuy nhiên do chỉ điều chỉnh trong khuôn khổ của các hành vi mua bán hàng hóa giữa các thương nhân với nhau nên Công ước Viên 1980 chỉ nói tới bên được đề nghị là một hay nhiều người xác định. Nhưng trong hoàn cảnh của một quốc gia và với những loại hợp đồng khác thì qui tắc này sẽ là không thích hợp. Bộ luật Dân sự 2015 đã có sự tiến bộ hơn rất nhiều so với Bộ luật Dân sự 2005 vì coi đề nghị giao kết hợp đồng có thể gửi tới người đã được xác định hoặc tới công chúng (Điều 386, khoản 1). 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải tuân thủ hình thức theo qui định của pháp luật.
Chẳng hạn theo Bộ luật Dân sự 2015 thì sự im lặng không được xem là sự chấp nhận trừ khi các bên có thỏa thuận trước hoặc theo thói quen xác lập giữa hai bên (Điều 393, khoản 2). Tuy nhiên sự trả lời chấp nhận phải thể hiện rõ ý chí chấp nhận. Yêu cầu chấp nhận toàn bộ điều kiện của đề nghị hay chỉ cần chấp nhận các điều kiện chủ yếu của đề nghị tùy thuộc vào từng hệ thống pháp luật. Ở Việt Nam hiện nay Bộ luật Dân sự 2015 yêu cầu phải chấp nhận toàn bộ các điều kiện của đề nghị.
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể được rút lại nếu thông báo rút lại được gửi đến trước hoặc đến cùng lúc với chấp nhận. Theo phương thức giao kết hợp đồng có gặp gỡ, trao đổi trực tiếp thì bên được đề nghị phải trả lời ngay về việc có chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hoặc các bên có thể thỏa thuận về việc trả lời chấp nhận sau đó. Khi hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực, trừ trường hợp bị hủy do sự thỏa thuận của các bên giao kết hoặc do qui định của pháp luật. Thế nhưng hợp đồng có hiệu lực tương đối, có nghĩa là, theo Corinne Renault-Brahinsky, nó chỉ ràng buộc đối với: (1) người giao kết hợp đồng nhân danh mình và vì lợi ích của mình; (2) người được đại diện; (3) người thừa kế của các bên giao kết hợp đồng; tuy nhiên nó có thể tác động đến người thứ ba và người thứ ba có nghĩa vụ tôn trọng nó [9, tr.
Hiệu lực tương đối của hợp đồng có hai ngoại lệ là hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, và giao kết hợp đồng thông qua đại diện [4]. Những ngoại lệ của nguyên tắc hiệu lực tương đối của hợp đồng là những vấn đề pháp lý phức tạp liên quan tới hợp đồng cộng đồng là đối tượng nghiên cứu của luận văn này, do đó sẽ được nghiên cứu cùng với những nghiên cứu cụ thể về hợp đồng cộng đồng. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hợp đồng luôn luôn là một căn cứ hay một nguồn gốc quan trọng làm phát sinh ra quan hệ nghĩa vụ. Trong quan hệ này có hai bên mà một bên là người có quyền, và bên còn lại là người có nghĩa vụ.
Người có quyền được yêu cầu người có nghĩa vụ phải làm hay không được làm một việc gì đấy vì lợi ích của người có quyền. Và theo nguyên tắc tự do ý chí, con người chỉ có thể bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình, có nghĩa là nếu họ không muốn thì không thể buộc họ làm hay không làm một việc gì đấy vì lợi ích của người khác. Vì vậy một nguyên tắc quan trọng mà không thể không thừa nhận được qui định trong Điều 1165, Bộ luật Dân sự năm 1804 của Pháp như đã dẫn ở trên. Điều luật này đã nói tới nguyên tắc hiệu lực tương đối của hợp đồng và một ngoại lệ của nó.
Điều đó được hiểu một cách đơn giản là hợp đồng chỉ ràng buộc các bên giao kết, trừ trường hợp hợp đồng được giao kết vì lợi ích của người thứ ba. Bộ luật Dân sự 2015 của Việt Nam tuy không có một điều luật nào qui định nguyên tắc khái quát như trên, song có thể tìm thấy nguyên tắc này thông qua việc giải thích một số điều luật trong đó. Điều 40, khoản 2 của Bộ luật này qui định: “Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết”. Các bên nói trong điều khoản này chính là các bên giao kết hợp đồng.
Và ngay sau đó, tại Điều 402, khoản 5 của Bộ luật này có qui định: “Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó”.