Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản - Hôn nhân: Trong Từ điển tiếng Việt, hôn nhân được định nghĩa là “việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng” [58, tr. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 của nước ta, tại Điều 3 khẳng định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn” [35]. Còn theo Từ điển Nhân học thì: “Hôn nhân là mối quan hệ gắn bó được thừa nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bà nhằm mục đích duy trì nòi giống một cách hợp pháp lập gia đình hạt nhân mới hoặc nhằm tạo gia đình hạt nhân mới” [45 tr.
Khi nghiên cứu về hôn nhân, Emily A.chultz và Robobert H.Lavenda cho rằng: “Hôn nhân bao hàm một sự thay đổi trong vị trí xã hội của hai người và ảnh hưởng đến vị trí xã hội của con, cháu. Một hôn nhân mẫu (1) đòi hỏi phải có một người nam và một người nữ và (2) quy định mức độ quan hệ tính giao các thành viên trong hôn nhân có thể có với nhau, xếp từ quan hệ độc quyền đến quan hệ ưu tiên. Hôn nhân cũng (3) tạo nên tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra và (4) thiết lập các mối quan hệ do họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng ” [20, tr. Từ đó, tác giả đã định nghĩa: “ Hôn nhân là một quá trình xã hội mà mô hình mẫu của nó là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, là một sự kiện làm biến đổi những thành viên của nó, làm thay đổi quan hệ giữa những người thân thuộc của mỗi bên và những khuôn mẫu xã hội thông qua việc sinh đẻ cùng với một số quyền lợi và nghĩa vụ đi kèm” [20, tr.
- Ngoại hôn dòng họ: Là quy tắc kết hôn ngoài dòng họ được luật tục 9 hay tập quán quy định, khi người ta kết hôn với người thuộc ngoài nhóm xã hội với mình. - Nội hôn tộc người: Là quy tắc chỉ kết hôn với người đồng tộc trong nhóm xã hội của mình, là sự lựa chọn người đối ngẫu để kết hôn trong cùng một nhóm được luật tục hoặc tập quán quy định. - Nghi lễ: Các nghi thức của một cuộc lễ và trật tự tiến hành [58, tr. - Nghi lễ hôn nhân: được hiểu là các nghi lễ, nghi thức diễn ra theo phong tục, tập quán hoặc theo quy định của cộng đồng trong mỗi cuộc hôn nhân.
Nghi lễ hôn nhân là một thủ tục không thể thiếu trong hôn nhân để khẳng định cuộc hôn nhân đó là phù hợp với tập quán pháp, và được cộng đồng cũng như luật pháp công nhận, nó làm thay đổi địa vị xã hội của con người. Để tiến đến hôn nhân cũng như khi đã đạt được cuộc hôn nhân thì mỗi tộc người, nhóm tộc người đều trải qua những nghi lễ nhất định theo quy định mang tính tập quán của tộc người hay nhóm tộc người đó. Nghi lễ hôn nhân nhằm đảm bảo cho sự chứng kiến và công nhận từ phía cộng đồng, ngoài ra nó còn thực hiện các yếu tố tâm linh nhằm đảm bảo cho cuộc hôn nhân được thuận lợi và bền vững. Nghi lễ hôn nhân là một khía cạnh phản ánh bản sắc văn hoá tộc người.
- Phong tục: Thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo [58, tr. - Tập quán: Thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được mọi người công nhận và làm theo [58, tr. - Kiêng cữ: Tránh điều gì, cái gì đó vì sợ sẽ gặp phải điều không hay [58, tr. Một số lý thuyết được áp dụng - Lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hóa Giao lưu tiếp biến văn hóa là khái niệm được trường phái nhân học 10 Anglo Saxon đưa ra vào cuối thế kỉ XIX, nhằm chỉ sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau, hệ quả của sự tiếp xúc này là sự thay đổi hay biến đổi của một số loại hình văn hóa ở cả hai nền văn hóa đó.
Theo đó, giao lưu tiếp biến văn hóa là quá trình một nền văn hóa thích nghi, chịu ảnh hưởng của một nền văn hóa khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng. Sự giao lưu tiếp biến văn hóa cũng là một cơ chế khác của biến đổi văn hóa, đó là sự trao đổi đặc tính văn hoá nảy sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục. Các thành tố của nền văn hóa tuy có biến đổi, song mỗi nền văn hóa vẫn giữ tính riêng biệt của mình. Qua quá trình tiếp xúc và giao lưu giữa hai nền văn hóa thì xã hội yếu hơn thường sẽ bị xã hội mạnh hơn tác động làm cho thay đổi [16, tr.
Tiếp biến văn hóa còn được hiểu là quá trình biến đổi văn hóa diễn ra do sự tiếp xúc của hai hệ thống văn hóa riêng rẽ mà kết quả làm cho chúng ngày càng trở nên giống nhau hơn. Quá trình này luôn có liên quan tới sự tương tác phức tạp với quá trình biến đổi xã hội [45, tr. Lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hóa cho thấy biến đổi là quá trình tất yếu của mọi sự vật hiện tượng, trong đó bao gồm cả văn hóa tộc người. Ngày nay dưới sự tác động của quá trình phát triển hiện đại hóa, toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ thì sự giao lưu, biến đổi của các tộc người, các nền văn hóa là không tránh khỏi.
Do đó, về mặt phương pháp luận, khi nghiên cứu văn hóa tộc người, trong đó có các quan niệm, nguyên tắc, đặc điểm và các nghi lễ trong hôn nhân, chúng ta không thể chỉ xem xét đối tượng một cách biệt lập hay trong trạng thái tĩnh, mà phải đặt chúng trong trạng thái động, liên tục biến đổi gắn với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tộc người và của đất nước. Đây là cách tiếp cận chính của lý thuyết này nhằm góp phần làm rõ quá trình biến đổi của hôn nhân của người Pa Dí ở điểm nghiên cứu. - Lý thuyết về bản sắc văn hóa tộc người 11 Nói đến bản sắc văn hóa là nói đến các mặt ít biến đổi của văn hóa trong quá trình phát triển. Bản sắc văn hóa tộc người là tổng thể những yếu tố vật chất và tinh thần mang tính đặc trưng và đặc thù của tộc người, giúp phân biệt tộc người này với tộc người khác và giữa các nhóm địa phương trong cùng tộc người với nhau.
Bản sắc văn hóa tộc người được hình thành lâu dài trong lịch sử gắn liền với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường địa lí tự nhiên trong đời sống của từng tộc người và chúng có sức sống lâu bền, thậm chí ngay cả khi đời sống của tộc người đó có những thay đổi mạnh mẽ. Bản sắc văn hóa của tộc người còn thể hiện bản lĩnh của tộc người, yếu tố tộc người. Trong quá trình phát triển của tộc người, không ít hiện tượng văn hóa lúc đầu chỉ là yếu tố vay mượn, nhưng dần dần qua thời gian chúng được “dân tộc hóa”, được sử dụng và tái tạo theo cách riêng của tộc người vay mượn, ít nhiều mang bản sắc văn hóa của tộc người. Áp dụng lý thuyết về bản sắc văn hóa tộc người giúp luận văn nhìn nhận những sắc thái truyền thống và đặc trưng riêng trong hôn nhân của người Pa Dí ở Cốc Ngù trong sự so sánh với những biến đổi trong hôn nhân hiện nay.
Khái quát về địa bàn nghiên cứu 1. Về điều kiện tự nhiên Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, nằm chính giữa vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc của Việt Nam, cách Hà Nội 345 km theo đường bộ. Phía Đông giáp tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía Tây giáp tỉnh Lai Châu, phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với 203 km đường biên giới. Tỉnh Lào Cai được tái lập tháng 10/1991 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn.
Từ ngày 01/01/2004 (sau khi tách huyện Than Uyên sang tỉnh Lai Châu) diện tích tự nhiên của tỉnh là 6. Địa hình Lào Cai rất phức tạp, phân tầng độ cao lớn, mức độ chia cắt 12 mạnh. Hai dãy núi chính là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Con Voi cùng có hướng Tây Bắc - Đông Nam nằm ở phía Đông và phía Tây. Giữa hai dãy núi này và phía Tây dãy Hoàng Liên Sơn có các vùng đất thấp, trung bình.
Ngoài ra còn rất nhiều núi nhỏ hơn phân bố đa dạng, chia cắt, tạo ra những tiểu vùng khí hậu khác nhau. Do địa hình chia cắt nên phân đai cao thấp khá rõ ràng, trong đó độ cao từ 300m - 1.000m chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh. Điểm cao nhất là đỉnh núi Phan Xi Păng trên dãy Hoàng Liên Sơn có độ cao 3.143m so với mặt nước biển, Tả Giàng Phình cao 3. Dải đất dọc theo hai con sông (sông Hồng, sông Chảy) gồm thành phố Lào Cai, huyện Cam Đường, huyện Bảo Thắng, huyện Bảo Yên và phần phía Đông huyện Văn Bàn thuộc các đai độ cao thấp hơn (điểm thấp nhất là 80m thuộc địa phận huyện Bảo Thắng).
Vùng này địa hình ít hiểm trở, có nhiều vùng đất đồi thoải, thung lũng ruộng nước rộng, là địa bàn thuận lợi cho sản xuất nông, lâm nghiệp và xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng. Lào Cai có khí hậu nhiệt đới gió mùa, song do nằm sâu trong lục địa, bị chi phối bởi yếu tố địa hình phức tạp nên diễn biến thời tiết có phần thay đổi, khác biệt theo thời gian và không gian. Khí hậu Lào Cai chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Đột biến về nhiệt độ thường xuất hiện ở dạng trong ngày lên cao hoặc xuống quá thấp (vùng Sa Pa có nhiều ngày nhiệt độ xuống dưới 00C và có tuyết rơi).
Nhiệt độ trung bình ở vùng cao từ 150C - 200C (riêng Sa Pa từ 140C - 160C và không có tháng nào lên quá 200C), lượng mưa trung bình từ 1. Nhiệt độ trung bình ở vùng thấp từ 230C - 290C, lượng mưa trung bình từ 1. Điều kiện khí hậu Lào Cai thích hợp với các loại cây ôn đới. Vì vậy, tỉnh có lợi thế phát triển các đặc sản xứ lạnh mà các vùng khác không có được như: hoa, quả, thảo dược và cá nước lạnh.
13 Theo thống kê năm 2009, dân số tỉnh Lào Cai có 615.