Luận văn thạc sĩ hôn nhân hiện nay của người pa dí ở thôn cốc ngù xã nậm chảy huyện mường khương tỉnh lào cai

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hôn nhân hiện nay của người pa dí ở thôn cốc ngù xã nậm chảy huyện mường khương tỉnh lào cai, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Dân tộc học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

120
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu

Chương này cung cấp nền tảng lý luận và bối cảnh địa lý, xã hội của Cốc Ngù, Nậm Chảy, Mường Khương, Lào Cai. Tác giả sử dụng các khái niệm cơ bản như hôn nhân hiện đại, phong tục tập quán, và nghi lễ hôn nhân để phân tích. Địa bàn nghiên cứu được mô tả chi tiết, bao gồm vị trí địa lý, dân cư, và đặc điểm văn hóa của người Pa Dí. Những yếu tố này tạo nên bối cảnh quan trọng để hiểu sự biến đổi trong hôn nhân hiện đại của cộng đồng này.

1.1. Khái niệm cơ bản

Tác giả định nghĩa các khái niệm như hôn nhân, nghi lễ hôn nhân, và phong tục tập quán. Hôn nhân được xem là mối quan hệ xã hội được công nhận giữa nam và nữ, với mục đích duy trì nòi giống. Nghi lễ hôn nhân là các thủ tục không thể thiếu, phản ánh bản sắc văn hóa tộc người. Phong tục tập quán là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được cộng đồng công nhận và tuân theo.

1.2. Địa bàn nghiên cứu

Cốc Ngù, Nậm Chảy, Mường Khương, Lào Cai là khu vực biên giới, nơi người Pa Dí sinh sống tập trung. Địa bàn này có đặc điểm địa lý và văn hóa độc đáo, với sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu địa bàn này trong bối cảnh biến đổi văn hóa và xã hội hiện nay.

II. Đặc điểm nguyên tắc và hình thức kết hôn của người Pa Dí

Chương này tập trung vào các đặc điểm, nguyên tắc và hình thức kết hôn của người Pa Dí. Tác giả phân tích sự khác biệt giữa hôn nhân truyền thốnghôn nhân hiện đại, đồng thời đề cập đến các trường hợp hôn nhân đặc biệt như ngoại tình và ly hôn. Những nguyên tắc kết hôn như ngoại hôn dòng họnội hôn tộc người được làm rõ, phản ánh sự phức tạp trong văn hóa hôn nhân của cộng đồng này.

2.1. Đặc điểm hôn nhân

Hôn nhân của người Pa Dí có nhiều đặc điểm độc đáo, phản ánh bản sắc văn hóa tộc người. Tác giả chỉ ra sự biến đổi trong các nguyên tắc kết hôn, từ hôn nhân truyền thống sang hôn nhân hiện đại, dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế.

2.2. Nguyên tắc và hình thức kết hôn

Các nguyên tắc như ngoại hôn dòng họnội hôn tộc người được phân tích chi tiết. Những hình thức kết hôn chủ yếu, bao gồm cả các trường hợp đặc biệt như ngoại tình và ly hôn, được đề cập để làm rõ sự đa dạng trong văn hóa hôn nhân của người Pa Dí.

III. Phong tục tập quán kiêng cữ và nghi lễ trong hôn nhân

Chương này khám phá các phong tục tập quán, kiêng cữ, và nghi lễ liên quan đến hôn nhân của người Pa Dí. Tác giả chia quá trình hôn nhân thành ba giai đoạn: trước, trong, và sau đám cưới. Mỗi giai đoạn đều có những nghi lễ và phong tục riêng, phản ánh sự phong phú trong văn hóa tộc người.

3.1. Nghi lễ trước đám cưới

Các nghi lễ như dạm ngõ, ăn hỏi được mô tả chi tiết, thể hiện sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho hôn nhân. Những phong tục tập quán này không chỉ là thủ tục mà còn mang ý nghĩa tâm linh, đảm bảo sự thuận lợi và bền vững cho cuộc hôn nhân.

3.2. Nghi lễ trong và sau đám cưới

Các nghi lễ trong đám cưới như lễ thành hôn và lễ lại mặt được phân tích, phản ánh sự công nhận của cộng đồng đối với hôn nhân. Sau đám cưới, các nghi lễ như lễ tạ ơn và lễ cưới hỏi tiếp tục củng cố mối quan hệ giữa hai gia đình.

IV. Biến đổi và bảo tồn giá trị hôn nhân của người Pa Dí

Chương này đánh giá sự biến đổi trong hôn nhân hiện đại của người Pa Dí và đề xuất các giải pháp bảo tồn giá trị văn hóa. Tác giả chỉ ra nguyên nhân của sự biến đổi, bao gồm tác động của cơ chế thị trường và quá trình hội nhập. Đồng thời, các giá trị văn hóa truyền thống được nhấn mạnh, với khuyến nghị về việc bảo tồn và phát huy những giá trị này trong bối cảnh hiện đại.

4.1. Sự biến đổi trong hôn nhân

Tác giả phân tích sự biến đổi trong hôn nhân hiện đại của người Pa Dí, từ hình thức kết hôn đến các nghi lễ và phong tục. Những nguyên nhân như tác động của cơ chế thị trường và quá trình hội nhập được làm rõ, cho thấy sự thay đổi sâu sắc trong văn hóa hôn nhân của cộng đồng này.

4.2. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

Các giá trị văn hóa truyền thống trong hôn nhân của người Pa Dí được nhấn mạnh, với khuyến nghị về việc bảo tồn và phát huy những giá trị này. Tác giả đề xuất các giải pháp cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và nhu cầu của người dân.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ hôn nhân hiện nay của người pa dí ở thôn cốc ngù xã nậm chảy huyện mường khương tỉnh lào cai

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản - Hôn nhân: Trong Từ điển tiếng Việt, hôn nhân được định nghĩa là “việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng” [58, tr. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 của nước ta, tại Điều 3 khẳng định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn” [35]. Còn theo Từ điển Nhân học thì: “Hôn nhân là mối quan hệ gắn bó được thừa nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bà nhằm mục đích duy trì nòi giống một cách hợp pháp lập gia đình hạt nhân mới hoặc nhằm tạo gia đình hạt nhân mới” [45 tr.

Khi nghiên cứu về hôn nhân, Emily A.chultz và Robobert H.Lavenda cho rằng: “Hôn nhân bao hàm một sự thay đổi trong vị trí xã hội của hai người và ảnh hưởng đến vị trí xã hội của con, cháu. Một hôn nhân mẫu (1) đòi hỏi phải có một người nam và một người nữ và (2) quy định mức độ quan hệ tính giao các thành viên trong hôn nhân có thể có với nhau, xếp từ quan hệ độc quyền đến quan hệ ưu tiên. Hôn nhân cũng (3) tạo nên tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra và (4) thiết lập các mối quan hệ do họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng ” [20, tr. Từ đó, tác giả đã định nghĩa: “ Hôn nhân là một quá trình xã hội mà mô hình mẫu của nó là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, là một sự kiện làm biến đổi những thành viên của nó, làm thay đổi quan hệ giữa những người thân thuộc của mỗi bên và những khuôn mẫu xã hội thông qua việc sinh đẻ cùng với một số quyền lợi và nghĩa vụ đi kèm” [20, tr.

- Ngoại hôn dòng họ: Là quy tắc kết hôn ngoài dòng họ được luật tục 9 hay tập quán quy định, khi người ta kết hôn với người thuộc ngoài nhóm xã hội với mình. - Nội hôn tộc người: Là quy tắc chỉ kết hôn với người đồng tộc trong nhóm xã hội của mình, là sự lựa chọn người đối ngẫu để kết hôn trong cùng một nhóm được luật tục hoặc tập quán quy định. - Nghi lễ: Các nghi thức của một cuộc lễ và trật tự tiến hành [58, tr. - Nghi lễ hôn nhân: được hiểu là các nghi lễ, nghi thức diễn ra theo phong tục, tập quán hoặc theo quy định của cộng đồng trong mỗi cuộc hôn nhân.

Nghi lễ hôn nhân là một thủ tục không thể thiếu trong hôn nhân để khẳng định cuộc hôn nhân đó là phù hợp với tập quán pháp, và được cộng đồng cũng như luật pháp công nhận, nó làm thay đổi địa vị xã hội của con người. Để tiến đến hôn nhân cũng như khi đã đạt được cuộc hôn nhân thì mỗi tộc người, nhóm tộc người đều trải qua những nghi lễ nhất định theo quy định mang tính tập quán của tộc người hay nhóm tộc người đó. Nghi lễ hôn nhân nhằm đảm bảo cho sự chứng kiến và công nhận từ phía cộng đồng, ngoài ra nó còn thực hiện các yếu tố tâm linh nhằm đảm bảo cho cuộc hôn nhân được thuận lợi và bền vững. Nghi lễ hôn nhân là một khía cạnh phản ánh bản sắc văn hoá tộc người.

- Phong tục: Thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo [58, tr. - Tập quán: Thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được mọi người công nhận và làm theo [58, tr. - Kiêng cữ: Tránh điều gì, cái gì đó vì sợ sẽ gặp phải điều không hay [58, tr. Một số lý thuyết được áp dụng - Lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hóa Giao lưu tiếp biến văn hóa là khái niệm được trường phái nhân học 10 Anglo Saxon đưa ra vào cuối thế kỉ XIX, nhằm chỉ sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau, hệ quả của sự tiếp xúc này là sự thay đổi hay biến đổi của một số loại hình văn hóa ở cả hai nền văn hóa đó.

Theo đó, giao lưu tiếp biến văn hóa là quá trình một nền văn hóa thích nghi, chịu ảnh hưởng của một nền văn hóa khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng. Sự giao lưu tiếp biến văn hóa cũng là một cơ chế khác của biến đổi văn hóa, đó là sự trao đổi đặc tính văn hoá nảy sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục. Các thành tố của nền văn hóa tuy có biến đổi, song mỗi nền văn hóa vẫn giữ tính riêng biệt của mình. Qua quá trình tiếp xúc và giao lưu giữa hai nền văn hóa thì xã hội yếu hơn thường sẽ bị xã hội mạnh hơn tác động làm cho thay đổi [16, tr.

Tiếp biến văn hóa còn được hiểu là quá trình biến đổi văn hóa diễn ra do sự tiếp xúc của hai hệ thống văn hóa riêng rẽ mà kết quả làm cho chúng ngày càng trở nên giống nhau hơn. Quá trình này luôn có liên quan tới sự tương tác phức tạp với quá trình biến đổi xã hội [45, tr. Lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hóa cho thấy biến đổi là quá trình tất yếu của mọi sự vật hiện tượng, trong đó bao gồm cả văn hóa tộc người. Ngày nay dưới sự tác động của quá trình phát triển hiện đại hóa, toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ thì sự giao lưu, biến đổi của các tộc người, các nền văn hóa là không tránh khỏi.

Do đó, về mặt phương pháp luận, khi nghiên cứu văn hóa tộc người, trong đó có các quan niệm, nguyên tắc, đặc điểm và các nghi lễ trong hôn nhân, chúng ta không thể chỉ xem xét đối tượng một cách biệt lập hay trong trạng thái tĩnh, mà phải đặt chúng trong trạng thái động, liên tục biến đổi gắn với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tộc người và của đất nước. Đây là cách tiếp cận chính của lý thuyết này nhằm góp phần làm rõ quá trình biến đổi của hôn nhân của người Pa Dí ở điểm nghiên cứu. - Lý thuyết về bản sắc văn hóa tộc người 11 Nói đến bản sắc văn hóa là nói đến các mặt ít biến đổi của văn hóa trong quá trình phát triển. Bản sắc văn hóa tộc người là tổng thể những yếu tố vật chất và tinh thần mang tính đặc trưng và đặc thù của tộc người, giúp phân biệt tộc người này với tộc người khác và giữa các nhóm địa phương trong cùng tộc người với nhau.

Bản sắc văn hóa tộc người được hình thành lâu dài trong lịch sử gắn liền với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường địa lí tự nhiên trong đời sống của từng tộc người và chúng có sức sống lâu bền, thậm chí ngay cả khi đời sống của tộc người đó có những thay đổi mạnh mẽ. Bản sắc văn hóa của tộc người còn thể hiện bản lĩnh của tộc người, yếu tố tộc người. Trong quá trình phát triển của tộc người, không ít hiện tượng văn hóa lúc đầu chỉ là yếu tố vay mượn, nhưng dần dần qua thời gian chúng được “dân tộc hóa”, được sử dụng và tái tạo theo cách riêng của tộc người vay mượn, ít nhiều mang bản sắc văn hóa của tộc người. Áp dụng lý thuyết về bản sắc văn hóa tộc người giúp luận văn nhìn nhận những sắc thái truyền thống và đặc trưng riêng trong hôn nhân của người Pa Dí ở Cốc Ngù trong sự so sánh với những biến đổi trong hôn nhân hiện nay.

Khái quát về địa bàn nghiên cứu 1. Về điều kiện tự nhiên Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, nằm chính giữa vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc của Việt Nam, cách Hà Nội 345 km theo đường bộ. Phía Đông giáp tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía Tây giáp tỉnh Lai Châu, phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với 203 km đường biên giới. Tỉnh Lào Cai được tái lập tháng 10/1991 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn.

Từ ngày 01/01/2004 (sau khi tách huyện Than Uyên sang tỉnh Lai Châu) diện tích tự nhiên của tỉnh là 6. Địa hình Lào Cai rất phức tạp, phân tầng độ cao lớn, mức độ chia cắt 12 mạnh. Hai dãy núi chính là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Con Voi cùng có hướng Tây Bắc - Đông Nam nằm ở phía Đông và phía Tây. Giữa hai dãy núi này và phía Tây dãy Hoàng Liên Sơn có các vùng đất thấp, trung bình.

Ngoài ra còn rất nhiều núi nhỏ hơn phân bố đa dạng, chia cắt, tạo ra những tiểu vùng khí hậu khác nhau. Do địa hình chia cắt nên phân đai cao thấp khá rõ ràng, trong đó độ cao từ 300m - 1.000m chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh. Điểm cao nhất là đỉnh núi Phan Xi Păng trên dãy Hoàng Liên Sơn có độ cao 3.143m so với mặt nước biển, Tả Giàng Phình cao 3. Dải đất dọc theo hai con sông (sông Hồng, sông Chảy) gồm thành phố Lào Cai, huyện Cam Đường, huyện Bảo Thắng, huyện Bảo Yên và phần phía Đông huyện Văn Bàn thuộc các đai độ cao thấp hơn (điểm thấp nhất là 80m thuộc địa phận huyện Bảo Thắng).

Vùng này địa hình ít hiểm trở, có nhiều vùng đất đồi thoải, thung lũng ruộng nước rộng, là địa bàn thuận lợi cho sản xuất nông, lâm nghiệp và xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng. Lào Cai có khí hậu nhiệt đới gió mùa, song do nằm sâu trong lục địa, bị chi phối bởi yếu tố địa hình phức tạp nên diễn biến thời tiết có phần thay đổi, khác biệt theo thời gian và không gian. Khí hậu Lào Cai chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Đột biến về nhiệt độ thường xuất hiện ở dạng trong ngày lên cao hoặc xuống quá thấp (vùng Sa Pa có nhiều ngày nhiệt độ xuống dưới 00C và có tuyết rơi).

Nhiệt độ trung bình ở vùng cao từ 150C - 200C (riêng Sa Pa từ 140C - 160C và không có tháng nào lên quá 200C), lượng mưa trung bình từ 1. Nhiệt độ trung bình ở vùng thấp từ 230C - 290C, lượng mưa trung bình từ 1. Điều kiện khí hậu Lào Cai thích hợp với các loại cây ôn đới. Vì vậy, tỉnh có lợi thế phát triển các đặc sản xứ lạnh mà các vùng khác không có được như: hoa, quả, thảo dược và cá nước lạnh.

13 Theo thống kê năm 2009, dân số tỉnh Lào Cai có 615.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ về hôn nhân hiện đại của người Pa Dí tại Cốc Ngù, Nậm Chảy, Mường Khương, Lào Cai là một nghiên cứu chuyên sâu về sự biến đổi trong hôn nhân của cộng đồng người Pa Dí trong bối cảnh xã hội hiện đại. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về các yếu tố văn hóa, xã hội và kinh tế ảnh hưởng đến hôn nhân mà còn làm nổi bật sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách cộng đồng này thích nghi với những thay đổi của thời đại, đồng thời nhận được những thông tin giá trị về bảo tồn văn hóa dân tộc.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu về sự hài lòng trong dịch vụ công, có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn tỉnh khánh hòa. Để mở rộng kiến thức về quản lý nhà nước, Luận văn quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng trên địa bàn tỉnh tây ninh là một tài liệu đáng đọc. Ngoài ra, nếu muốn tìm hiểu về các vấn đề xã hội sâu sắc hơn, Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghèo đa chiều ở tỉnh saravanh nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào sẽ mang lại những góc nhìn thú vị.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá thêm các chủ đề liên quan, từ đó mở rộng hiểu biết và có cái nhìn đa chiều hơn về các vấn đề xã hội và quản lý.