Chương 1. Những vấn đề lý luận pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã; Chương 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Khái quát về tranh chấp đất đai 1. Khái niệm về tranh chấp đất đai Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu sử dụng đất ngày càng trở nên phong phú và đa dạng. Từ ích lợi của những giai cấp trong xã hội và đòi hỏi của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, Nhà nước đã sử dụng pháp luật như một công cụ quản lý nhằm điều chỉnh các quan hệ đất đai, tạo môi trường pháp lý lành mạnh cho việc khai thác và sử dụng đất có hiệu quả.
Bên cạnh đó, tạo cơ sở pháp lý vững chắc vững chắc để giải quyết có hiệu quả những tranh chấp đất đai phát sinh trong quá trình khai thác và sử dụng đất. Tranh chấp đất đai là một hiện tượng xã hội phổ biến. Việc giải quyết các tranh chấp đất đai hoặc là do các bên tiến hành thông qua con đường tự thương lượng, hòa giải, hoặc là do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện dựa trên việc áp dụng các quy định của pháp luật. “Tranh chấp đất đai là sự mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể (sử dụng đất) trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng đối với một thửa đất nhất định.
Có thể nói, trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân, thì tranh chấp đất đai chính là tranh chấp quyền sử dụng đất”. 1 Thực tiễn cho thấy, tranh chấp đất đai là sự tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các bên liên quan đến một khu đất cụ thể, mà mỗi bên đều cho rằng 1 Lưu Quốc Thái (2006), Bàn về khái niệm tranh chấp đất đai trong Luật Đất đai năm 2003, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2(33)/2006, tr. 8 mình phải có quyền đó do pháp luật quy định và bảo vệ. Vậy nên, trên thực tế, các bên trong quan hệ tranh chấp đất đai thường không thể tự giải quyết vấn đề tranh chấp của mình mà phải yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết.
Việc giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền. Để giải quyết tranh chấp đất đai, các chủ thể có thể tự thương lượng hoặc thỏa thuận với nhau. Pháp luật đất đai không quy định về cách thức các bên thỏa thuận ra sao, thương lượng thế nào, mà chỉ đưa ra các quy định điều chỉnh các hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai khi có sự tham gia của cơ quan quyền lực nhà nước vào việc giải quyết đó. Với mục đích nhằm thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước với tự do ý chí, tự do định đoạt của các chủ thể và Nhà nước sẽ cung cấp một công cụ giải quyết tranh chấp đất đai cho họ, trong trường hợp họ không thể thống nhất với nhau.
Trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau của các quan hệ pháp luật đất đai, tranh chấp đất đai đều thể hiện dấu ấn mạnh mẽ. Trước khi Hiến pháp năm 1980 được ban hành, có ba hình thức sở hữu đất đai bao gồm: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân thì có thể có tranh chấp về quyền sở hữu, về quyền – nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai. Hiến pháp năm 1980 được ban hành, Nhà nước trở thành người đại diện cho toàn dân thực hiện quyền sở hữu đất đai, vì thế không thể có tranh chấp về quyền sở hữu. Đối tượng của mọi tranh chấp đất đai trong thời kì này chỉ có thể là quyền quản lý và quyền sử dụng những diện tích đất đai nhất định.
Bước sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với những quan hệ kinh tế xã hội khác, các quan hệ đất đai cũng phát triển hết sức đa dạng, phức tạp, đòi hỏi pháp luật phải có cơ chế điều chỉnh phù hợp. Các giao dịch dân sự về đất đai được xác lập như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, bão lãnh, góp vốn liên doanh 9 bằng giá trị sử dụng đất… cũng từ đó mà đối tượng của tranh chấp đất đai đã có sự thay đổi, không chỉ là quyền quản lý, quyền sử dụng đất mà còn tranh chấp trong quá trình xác lập và thực hiện các giao dịch về đất đai. 2 Theo quy định tại Điều 3 Khoản 24 Luật Đất đai năm 2013 thì “tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Đất tranh chấp trong quan hệ tranh chấp đất đai, là loại đất mà giữa người sử dụng hợp pháp đất đó với cá nhân, tổ chức khác, với nhà nước (vấn đề bồi thường đất đai) hoặc giữa những người sử dụng chung mảnh đất đó với nhau đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất, về ranh giới, về mục đích sử dụng đất hoặc về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng đất.
Bên cạnh đó, đất tranh chấp trong quan hệ tranh chấp đất đai còn có thể hiểu là đất đang tranh chấp giữa hai cá nhân chưa xác định được ai là người sở hữu, sử dụng đất hợp pháp. Tranh chấp đất đai thông thường có các dạng chủ yếu như sau: Thứ nhất, tranh chấp đất giữa những người sử sụng với nhau về ranh giới giữa các vùng đất, đây có thể là tranh chấp về ranh giới đất liền kề, ngõ đi… Thứ hai, tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến tranh chấp về địa giới hành chính. Thứ ba, tranh chấp đòi lại đất. Có thể nói, tranh chấp đất đai là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.
Nghĩa là, chỉ những tranh chấp nhằm xác định ai là người có quyền sử dụng đất (bao gồm cả việc tranh chấp ranh giới giữa các thửa đất) mới là tranh chấp đất đai. Việc xác định loại tranh chấp nào là tranh chấp đất đai rất quan trọng, bởi vì 2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Đất Đai, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội 10 thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai và tranh chấp liên quan đến đất đai là khác nhau. Đặc điểm của tranh chấp đất đai Bên cạnh những đặc điểm chung của một tranh chấp dân sự, thì tranh chấp đất đai còn mang những đặc điểm riêng, khác với những tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh tế, tranh chấp lao động… Sự khác biệt được thể hiện ở những điểm như sau: Trong quan hệ tranh chấp đất đai, chủ thể phải là người sử dụng đất (bao gồm: người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, người nhận chuyển quyền sử dụng đất) hoặc là người khác có quyền, nghĩa vụ liên quan đến thửa đất. Nếu tranh chấp đất không phát sinh giữa những chủ thể này với nhau liên quan đến thửa đất, thì đó là quan hệ tranh chấp khác.
Cụ thể như, tranh chấp phát sinh giữa người sử dụng đất với cơ quan quyền lực nhà nước trong việc cho thuê đất, giao đất, thu hồi đất, công nhận quyền sử dụng đất, thì đó là tranh chấp về khiếu kiện hành chính. Trong quan hệ tranh chấp đất đai, đối tượng gồm có quyền quản lý, quyền sử dụng đất và những lợi ích phát sinh từ đất đai. Trong đó, đất đai là loại tài sản đặc biệt thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, các bên trong quan hệ tranh chấp không có quyền sở hữu đất đai. Nội dung của tranh chấp đất đai rất phức tạp và đa dạng.
Trên thực tế, việc quản lý và sử dụng đất ngày càng đa dạng và phức tạp thì những mâu thuẫn xung quanh việc quản lý và sử dụng đất đai cũng trở nên trầm trọng và gay gắt hơn. Căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, hòa giải gồm có các loại hình chính như sau: hòa giải ngoài Tòa án, hòa giải tại Tòa án, và hòa giải theo thủ tục tố tụng trọng tài. Trong đó, hòa giải ngoài tòa án bao gồm: hòa 11 giải cơ sở, hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn, hòa giải tranh chấp thương mại, hòa giải tranh chấp lao động, hòa giải tranh chấp giữa người tiêu dùng với các cơ quan, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Hòa giải tại Tòa án bao gồm: hòa giải theo tố tụng dân sự và hòa giải thí điểm tại Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Căn cứ theo quy định tại Điều 3 Khoản 24 Luật Đất đai năm 2013 thì “tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Tranh chấp đất đai gắn liền với việc quản lý và sử dụng đất của các chủ thể, vì vậy mà, nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các bên liên quan mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước. Trường hợp tranh chấp đất đai phát sinh, một bên không thực hiện được các quyền và lợi ích của mình, từ đó sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện một số nghĩa vụ đối với Nhà nước. Tranh chấp đất đai phát sinh gây tác động xấu về nhiều mặt như: có thể gây mất ổn định chính trị, phá vỡ mối quan hệ xã hội, tác động không nhỏ đến tâm lý, tinh thần của các bên, gây ra tình trạng mất ổn định, bất đồng trong nội bộ nhân dân, làm cho những quy định của pháp luật về đất đai cũng như chính sách của Nhà nước không được thực hiện một cách triệt để, không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của các bên tranh chấp mà còn gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và xã hội.
Lý luận cơ bản về hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã 1. Khái niệm về hòa giải tranh chấp đất đai Hòa giải nghĩa là việc thuyết phục các bên liên quan đồng ý chấm dứt mẫu thuẫn, xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa.