Phần mở đầu - Phần nội dung Chƣơng 1: Lý luận chung về hình thức hợp đồng Chƣơng 2: Hình thức hợp đồng bằng lời nói Chƣơng 3: Hình thức hợp đồng bằng văn bản Chƣơng 4: Hình thức hợp đồng bằng hành vi Chƣơng 5: Những vấn đề thực tiễn tranh chấp về hình thức hợp đồng và một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về hình thức hợp đồng. - Phần kết luận Ngoài ra, bản luận văn còn bao gồm: - Mục lục - Danh mục tài liệu tham khảo. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG 1.1 Khái niệm hình thức hợp đồng BLDS ra đời có vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống dân sự nói riêng và đời sống xã hội nói chung. Bởi trƣớc hết, đây chính là cơ sở pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích dân sự của công dân, các tổ chức, các tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế – xã hội.
Đồng thời, nó cũng là công cụ pháp lý đảm bảo nhiệm vụ quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nƣớc. Tuy nhiên, qua một thời gian áp dụng vào thực tiễn, BLDS đã bộc lộ một số điểm chƣa phù hợp và cần phải đƣợc sửa đổi, bổ sung. Một trong những nội dung cần có sự nghiên cứu và sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật là vấn đề hình thức hợp đồng – một vấn đề mang tính lý luận phức tạp và có nhiều điểm chƣa đƣợc nhận thức đầy đủ. Đây là một khái niệm pháp lý cơ bản trong chế định hợp đồng – chế định có vai trò xƣơng sống của BLDS.
Rất nhiều những quy định liên quan trực tiếp đến vấn đề hình thức hợp đồng nhƣ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, hợp đồng vô hiệu … vì thế chƣa có đƣợc cách hiểu và áp dụng thống nhất. Có thể nói rằng, khái niệm hợp đồng dân sự đƣợc xây dựng trong BLDS 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năm 1995 cũng nhƣ BLDS sửa đổi năm 2005 khá rõ ràng và phản ánh đƣợc bản chất quan hệ hợp đồng dân sự. Tại Điều 388 BLDS sửa đổi năm 2005, hợp đồng dân sự “là sự thoả thuận về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Đồng thời, Bộ luật cũng ghi nhận nguyên tắc có tính chất quyết định, xuyên suốt toàn bộ tinh thần của một thoả thuận hợp đồng, đó chính là nguyên tắc “Tự do hợp đồng”.
Sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng ở đây phải đạt đƣợc dựa trên sự tự do ý chí và đồng thuận của các bên. Tự do hợp đồng là tự do ý chí và thể hiện ý chí của từng bên. Nội dung cụ thể của nó là tự do lựa chọn đối tác, tự do lựa chọn đối tƣợng hợp đồng cũng nhƣ tự do lựa chọn hình thức hợp đồng. Tất nhiên, pháp luật cũng có những hạn chế để sự tự do này không gây ảnh hƣởng tiêu cực đến quyền lợi của những chủ thể khác và trật tự xã hội.
Không một hợp đồng nào đƣợc chấp nhận có giá trị pháp lý nếu vi phạm nguyên tắc này. Tuy nhiên, chỉ khi nào sự tự do ý chí của các bên và sự đồng thuận đƣợc thể hiện dƣới một hình thức nào đó thì hợp đồng đó mới tồn tại. Hay nói cách khác, hợp đồng không bao giờ tồn tại trong ý tƣởng hay suy nghĩ của con ngƣời mà nó phải đƣợc thể hiện dƣới dạng thức nhất định. Khoa học pháp lý đã bƣớc đầu có sự tiếp cận và có những lý giải về hình thức hợp đồng dựa trên cơ sở nhƣ vậy.
Hình thức hợp đồng không phải là vấn đề pháp lý mới mẻ mà thực sự, nó tồn tại ngay từ khi ngƣời ta bắt đầu quan tâm đến hợp đồng dân sự là gì? Tuy nhiên, khi xây dựng BLDS năm 1995 cũng nhƣ BLDS sửa đổi năm 2005, các nhà làm luật chƣa đƣa ra đƣợc một khái niệm pháp lý theo đúng nghĩa về hình thức hợp đồng. Điều 400 BLDS quy định về hình thức hợp đồng: “1- Hình thức hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải được giao kết dưới một hình thức nhất định. Khi các bên thoả thuận giao kết hợp đồng bằng hình thức nhất định, thì 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hợp đồng được coi là đã giao kết khi đã tuân theo hình thức đó.” Trong khoa học pháp lý, việc đƣa ra một khái niệm là kết quả của quá trình nghiên cứu, tìm hiểu bản chất vấn đề. Những nhận thức một cách thấu đáo là cơ sở để xây dựng nên một khái niệm vừa khái quát, vừa thể hiện chính xác nội dung.
Thông qua khái niệm, các vấn đề có liên quan cũng đƣợc giải quyết một cách khoa học và thống nhất. Điều 400 BLDS chƣa đƣa ra đƣợc một khái niệm mà chỉ thừa nhận ba hình thức hợp đồng: hình thức lời nói, hình thức hành vi và hình thức văn bản. Sự liệt kê này có ý nghĩa trong việc xác định cụ thể những hình thức hợp đồng đƣợc pháp luật ghi nhận. Trong chừng mực nào đó, ghi nhận một cách rõ ràng những hình thức hợp đồng là một quy định cần thiết.
Tuy nhiên, quy định này không thể thay thế cho việc đƣa ra một khái niệm. Khi xây dựng khái niệm pháp lý về hình thức hợp đồng, chúng ta cần quan tâm đến bản chất pháp lý của vấn đề này, tƣơng tự nhƣ hiểu đƣợc bản chất pháp lý của hợp đồng vậy. Một đặc trƣng cơ bản và xuyên suốt toàn bộ nội dung pháp lý của hợp đồng là sự thể hiện thống nhất ý chí của các chủ thể. Tuy nhiên, không phải bất kỳ sự thống nhất ý chí nào cũng là hợp đồng mà chỉ có sự thống nhất ý chí làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt nghĩa vụ dân sự mới chịu sự điều chỉnh của pháp luật hợp đồng.
Vậy, thực chất sự thống nhất ý chí của các chủ thể có thể đƣợc chúng ta nhận biết ra sao hay nó đƣợc thể hiện nhƣ thế nào. Mỗi một cá nhân đều có những cách thức riêng để biểu đạt suy nghĩ của mình. Nhƣng sự thống nhất ý chí của ít nhất là hai chủ thể trong quan hệ hợp đồng phải đƣợc thể hiện dƣới những hình thức nhất định, đảm bảo khả năng nhận biết khách quan. Chỉ khi đó, pháp luật mới có thể bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp nếu chúng bị vi phạm.
Từ khi bắt đầu đƣa ra đề nghị giao kết hợp đồng cho tới khi các bên cùng đạt đƣợc thoả thuận là một quá trình trao đổi thông tin. Việc trao đổi này đƣợc thực hiện bằng nhiều 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cách, từ cách đơn giản nhƣ trao đổi bằng lời nói, bằng cử chỉ hay những cách thức phức tạp và hiện đại nhƣ qua máy fax, telephone hay internet… Chính nhờ những thông tin đƣợc trao đổi mà các bên mới đạt đƣợc thoả thuận cuối cùng, đó chính là hợp đồng. Và nhƣ vậy, hợp đồng không thể là những ý tƣởng riêng rẽ của một cá nhân nào đó mà nó chính là sự đồng thuận của các chủ thể có ý chí độc lập, tồn tại dƣới một dạng ghi nhận thông tin nào đó. Dạng thức ghi nhận thoả thuận hợp đồng không chỉ có ý nghĩa trong việc xác định đã tồn tại một hợp đồng hay không, hợp đồng đƣợc xác lập bao gồm những nội dung nào mà còn nhằm đối kháng với bên thức ba.
Một khi hợp đồng đã đƣợc giao kết tức là các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng thoả thuận. Bất kỳ sự thay đổi hay không chịu thực hiện đúng thoả thuận mà không đƣợc sự đồng ý của đối tác cũng là nguyên nhân để bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi. Cho đến nay, vấn đề hình thức hợp đồng đƣợc thừa nhận một cách tƣơng đối thống nhất rằng: nó chính là căn cứ để bên có quyền lợi bị vi phạm đƣợc nhận sự bảo vệ từ phía luật pháp. Trong cổ luật Việt Nam, dân luật chƣa từng đƣợc chú ý xây dựng với tƣ cách là một đạo luật riêng và vì thế, những vấn đề pháp lý phức tạp nhƣ hợp đồng dân sự là gì, hình thức hợp đồng là gì cũng nhƣ rất nhiều vấn đề khác không hề đƣợc đề cập đến.
Chỉ đến khi xây dựng ba bộ dân luật Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, các nhà làm luật mới đƣa ra quy định về hình thức hợp đồng một cách cụ thể và rõ ràng hơn. Đƣơng nhiên, kỹ thuật xây dựng ba bộ dân luật thời kỳ này chịu ảnh hƣởng sâu sắc từ bộ dân luật Naponeon của Pháp. BLDS của một nƣớc Việt Nam hoàn toàn độc lập đƣợc xây dựng năm 1995, bƣớc đầu tạo cơ sở pháp lý khá toàn diện về chế định hợp đồng. Đặc biệt, cũng là lần đầu tiên, hình thức hợp đồng đã đƣợc quy định rõ ràng hơn.
Mặc dù vậy, một khái niệm pháp lý về hình thức hợp đồng chƣa đƣợc ghi nhận cũng khiến cho việc hiểu và áp dụng những quy định pháp luật về hợp 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đồng có nhiều vƣớng mắc, bất cập. Điều 400 BLDS ghi nhận ba hình thức hợp đồng: “Hình thức hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.” Trong khoa học pháp lý, việc đƣa ra khái niệm không chỉ có ý nghĩa là việc thể hiện quan điểm chính thống về những vấn đề pháp lý có liên quan mà quan trọng hơn, nó thể hiện kết quả một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu bản chất một vấn đề. Một khái niệm phải thể hiện đƣợc chính xác nội dung của vấn đề đó và phải đảm bảo tính khái quát. Thông qua khái niệm, chúng ta có thể tiếp cận đến những nội dung cụ thể của vấn đề một cách tƣờng tận và khoa học.
Điều 400 BLDS năm 1995 cũng nhƣ Điều 401 BLDS sửa đổi năm 2005 chỉ dừng lại ở mức liệt kê các hình thức hợp đồng. Đây là điểm bất cập trong việc xây dựng luật. Vấn đề hình thức hợp đồng đƣợc xem xét dƣới góc độ ƣu tiên trong những hệ thống pháp luật trên thế giới với quan điểm rõ ràng. Các nƣớc trong hệ thống Continental Law nhƣ Pháp là đại diện cho rằng, hợp đồng quan trọng nhất chính là sự thoả thuận ý chí chung nên nếu đủ yếu tố này, hợp đồng coi nhƣ đã đƣợc thiết lập, dù dƣới bất kỳ hình thức nào.