Phân Tích Hệ Thống Lời Bình Trong Truyền Kỳ Mạn Lục Của Nguyễn Dữ Và Mối Liên Hệ Với Phần Chính Văn

Khám phá mối quan hệ giữa hệ thống lời bình và chính văn trong "Truyền kỳ mạn lục" của Nguyễn Dữ qua luận văn thạc sĩ chi tiết và chuyên sâu.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2014

105
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Những vấn đề chung

Phê bình văn học Việt Nam thời trung đại không thể được coi là một nền phê bình hoàn chỉnh. Tuy nhiên, hoạt động phê bình vẫn diễn ra dưới dạng những bài tựa, bạt và bình luận về tác phẩm. Những văn bản này phản ánh quan điểm của tác giả và người đọc về các tác phẩm văn học. Hệ thống lời bình trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là một ví dụ điển hình cho hoạt động này. Những lời bình không chỉ giúp làm rõ nội dung chính văn mà còn thể hiện tư tưởng, quan điểm của tác giả. Điều này cho thấy sự tương tác giữa tác phẩm và độc giả trong bối cảnh văn học thời trung đại. Như vậy, việc nghiên cứu hệ thống lời bình không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn về bối cảnh văn hóa, xã hội của thời kỳ đó.

1.1. Phê bình văn học Việt Nam thời trung đại

Phê bình văn học Việt Nam thời trung đại tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Các tác phẩm văn học thường kèm theo những lời bình, tựa, bạt, thể hiện quan điểm của tác giả hoặc người khác. Những lời bình này không chỉ là phản hồi mà còn là cách để tác giả thể hiện tư tưởng của mình. Hệ thống lời bình trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là một phần quan trọng, giúp làm nổi bật nội dung chính văn. Qua đó, người đọc có thể hiểu rõ hơn về tư tưởng và quan điểm của tác giả trong bối cảnh xã hội đầy biến động của thời kỳ đó.

II. Mối quan hệ giữa lời bình và chính văn

Mối quan hệ giữa lời bình và chính văn trong Truyền kỳ mạn lục thể hiện sự thống nhất và mâu thuẫn. Một số truyện cho thấy sự đồng nhất giữa nội dung chính văn và lời bình, trong khi những truyện khác lại có sự khác biệt rõ rệt. Điều này cho thấy Nguyễn Dữ đã sử dụng lời bình như một công cụ để thể hiện quan điểm của mình về các vấn đề xã hội, đạo đức. Những lời bình không chỉ đơn thuần là nhận xét mà còn là sự khẳng định giá trị của tác phẩm. Sự mâu thuẫn giữa chính văn và lời bình có thể phản ánh những rạn nứt trong tư tưởng của tác giả, cho thấy sự phức tạp trong cách tiếp cận văn học của Nguyễn Dữ.

2.1. Sự thống nhất giữa chính văn và lời bình

Trong một số truyện của Truyền kỳ mạn lục, lời bình và chính văn thể hiện sự thống nhất rõ rệt. Nội dung tư tưởng của tác phẩm được củng cố bởi những lời bình, tạo nên một tổng thể hài hòa. Điều này cho thấy Nguyễn Dữ đã khéo léo kết hợp giữa nghệ thuật kể chuyện và phê bình, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ hơn về các giá trị đạo đức, xã hội mà tác phẩm muốn truyền tải. Những lời bình này không chỉ là sự giải thích mà còn là sự khẳng định giá trị của nhân vật và các tình huống trong truyện.

2.2. Sự mâu thuẫn giữa chính văn và lời bình

Tuy nhiên, không phải tất cả các truyện đều có sự thống nhất giữa chính văn và lời bình. Một số tác phẩm cho thấy sự mâu thuẫn rõ rệt, khi lời bình có thể phê phán những gì mà chính văn ca ngợi. Điều này phản ánh sự phức tạp trong tư tưởng của Nguyễn Dữ, khi ông phải đối mặt với những quy chuẩn đạo đức Nho giáo. Sự khác biệt này không chỉ làm nổi bật tính đa chiều của tác phẩm mà còn cho thấy sự đấu tranh nội tâm của tác giả trong việc thể hiện quan điểm của mình về các vấn đề xã hội và đạo đức.

III. Vai trò của lời bình trong Truyền kỳ mạn lục

Lời bình trong Truyền kỳ mạn lục đóng vai trò quan trọng trong việc định hình nội dung và tư tưởng của tác phẩm. Nếu Nguyễn Dữ là tác giả của những lời bình này, chúng không chỉ là sự giải thích mà còn là sự khẳng định giá trị của các nhân vật và tình huống trong truyện. Những lời bình này giúp củng cố ý đồ giáo huấn đạo đức, đồng thời thể hiện một cách tiếp nhận văn học của xã hội đương thời. Nếu không phải do Nguyễn Dữ viết, lời bình vẫn thể hiện một quan điểm nhất định về tác phẩm, cho thấy sự quan tâm của độc giả đối với các giá trị văn học.

3.1. Ý nghĩa của lời bình trong tác phẩm

Lời bình trong Truyền kỳ mạn lục không chỉ đơn thuần là những nhận xét mà còn mang ý nghĩa sâu sắc trong việc định hình nội dung tác phẩm. Chúng giúp người đọc hiểu rõ hơn về các giá trị đạo đức, xã hội mà tác phẩm muốn truyền tải. Nếu những lời bình là của Nguyễn Dữ, chúng thể hiện quan điểm của tác giả về các vấn đề xã hội, đồng thời khẳng định giá trị của tác phẩm trong bối cảnh văn học thời trung đại. Điều này cho thấy sự quan trọng của lời bình trong việc làm rõ nội dung và tư tưởng của tác phẩm.

3.2. Lời bình như một thủ đoạn vượt rào

Nếu những lời bình không phải do Nguyễn Dữ viết, chúng vẫn có thể được coi là một thủ đoạn để bảo vệ tác phẩm khỏi sự mai một. Những lời bình này có thể phản ánh quan điểm của một nhóm độc giả hoặc những người cùng quan điểm với tác giả, giúp tác phẩm được lưu truyền và tiếp cận với nhiều thế hệ độc giả. Điều này cho thấy vai trò của lời bình không chỉ trong việc giải thích tác phẩm mà còn trong việc bảo tồn giá trị văn học qua thời gian.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ hệ thống lời bình ở truyền kỳ mạn lục nguyễn dữ trong mối quan hệ với phần chính văn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu, người viết tự nhận “đối với văn xưa tôi còn quá ư lạo thảo, đâu dám đi bình duyệt văn người”, rồi bằng “kiến văn sơ lậu” của mình, Nhữ Bá Sĩ chỉ ra “ba điều đáng lấy”, “bảy điều đáng bàn” của tác phẩm, cuối cùng khẳng định lại học thức của bản thân và khuyến khích tác giả cố gắng hơn nữa: “Với sự kém cỏi của tôi mà dám khen chê bàn bạc văn người e rằng ngoài sân mua cười, lại thêm một chữ „cười‟ nữa. Nhưng tôi muốn bậc quân tử mở rộng lòng tới điều quý báu nhất, hay gắng sức vượt trèo, bơi lội kiếm tìm trong các đại gia, dốc hết tinh thần truy cứu, có lúc sẽ nắm được nó, rồi dần dà mới biết: bừng tỉnh cái gốc, gắp lại cái nguồn, thì hạt trai như núi, hạt ngọc như bể, đầy dẫy trước mặt ta. Còn cái mà tôi nói ra, chẳng qua chỉ nhỏ nhặt như một mảnh ngọc trong vẩy con ly long, đáng kể vào đâu” [93, tr. Không chỉ chừng mực trong cách phê bình tác phẩm của người khác, nhà nho còn coi đó là một trong những tiêu chí thẩm mỹ của văn học nghệ thuật nói chung.

Khổng tử phê phán âm nhạc của các nước Trịnh, Tống, Vệ, Tề vì bốn loại này đều là thấy đạo trời; chép thành sách những bài hay, để đời sau biết là thánh. Vật quý báu của nhà nước, vật lớn lao của cõi đời, sẽ ban cho thần dân, để mọi nhà được đọc, chẳng ai không nức lòng mà vui vẻ ngâm nga” [117, tr. 21 “nịch âm” (âm thanh say đắm), gây ảnh hưởng đến chí: “Ca nhạc nước Trịnh vì hiếu lạm nên làm cho chí dâm, ca nhạc nước Tống vì say đắm nữ sắc nên làm cho chí đắm đuối, ca nhạc nước Vệ vì quá gấp gáp, dâm dật nên làm cho chí rối loạn, ca nhạc nước Tề vì quá phóng túng nên làm cho chí kiêu” (Nhạc ký, dẫn theo [37, tr. Trái lại, Khổng tử coi trọng Kinh thi bởi sự “ôn nhu đôn hậu” của ba trăm bài thơ này, bởi “Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán” (Thi có thể lay động lòng người bằng tình cảm dạt dào; có thể dạy cách xem xét nhân tình; có thể tập hợp mọi người, tạo dựng sự đồng tâm; có thể bộc lộ nỗi oán thán) nhưng vẫn “ai nhi bất thương, lạc nhi bất dâm” (buồn mà không bi luỵ, vui mà không phóng túng).

Noi gương Khổng tử, các nhà nho đời sau đề cao thứ văn chương trung hậu, vừa “phát hồ tình” (xuất phát từ tình cảm tự nhiên của con người) vừa “chỉ hồ lễ nghĩa” (dừng lại ở lễ nghĩa), coi trọng những tác phẩm vừa giữ được sự chân thành trong xúc cảm, vừa sâu sắc về tư tưởng, lại diễn đạt những điều đó bằng ngôn từ thanh nhã, mực thước. Đồng thời, nhà nho chủ trương: “Vi văn bất tác khinh bạc ngữ” (Làm văn không viết lời khinh bạc) và cực kỳ phản đối những tác phẩm không giữ được sự ôn nhu đôn hậu, xa rời lễ nghĩa, giáo hoá. Ngay cả những thi hào nổi tiếng trong văn học Trung Hoa như Đào Tiềm, Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Nguyên Thận, theo họ, vẫn có chỗ đáng phàn nàn, bởi các tác gia này thiếu tiết chế trong việc bộc lộ cảm xúc: “Đào tạm gần với sự đúng đắn, Khuất hơi quá về bi phẫn, Đỗ hơi thừa về cùng sầu, Lý phóng đãng mà buông thả, Bạch thất chí mà cao ngạo, Nguyên thì thấp hơn thế. Đó là những điều sĩ đại phu thẹn thùng khi phải nói tới” [22, tr.

Thừa nhận Tiền Xích bích phú và Hậu Xích bích phú là “những áng văn bậc nhất trên tao đàn kim cổ”, nhưng Ngô Thì Chí vẫn không coi tác phẩm của Tô Đông Pha là thứ “văn có gốc”, vì “Ở bài phú trước, tấm lòng thưởng thức sông nước và trăng có vô vàn cảm khái, ý tứ xem ra cởi mở, phóng khoáng, không quy tụ về chỗ nào cả. Bài phú sau đắc ý ở chỗ giác ngộ về tiên nhưng tinh thần phiêu du, tình cảm rong ruổi ở nơi ngoài giáo hoá, cái tâm ấy càng thêm phóng đãng. Em tiếc cho sự học ấy rơi vào chỗ tài tử, không thể làm khuôn phép cho nhà nho” [20, tr. Trao đổi lại với em, 22 Ngô Thì Nhậm cũng bày tỏ mối lo ngại về những kẻ sĩ khinh bạc như Phạm Nguyễn Du, Trần Tử: “Văn chương của Thạch Động như thuyền không lái, ngựa bất kham, khí phách sắc sảo, lời lẽ hùng hồn, nhưng không có cốt cách vững chắc.

Bản chất và tâm tính của ông cũng thế. Vì vậy, gọi là kẻ sĩ giỏi văn thì được, chứ gọi là kẻ sĩ „bác văn ước lễ‟ thì không được. Đây là chỗ nguồn gốc thầy bạn của Trần Tử, cứ đi theo đà ấy mà đi, sẽ trở thành con người „cuồng giản‟ như Khổng tử đã nói; đến cuối cùng sẽ là người đem thuật Lão tử đứng vào chỗ thời nghĩa của Khổng Mạnh và danh lý của Trình, Chu. Thiên hạ mắc vạ không nhỏ” [93, tr.

Yêu cầu của nhà nho về sự chừng mực, có mức độ thể hiện rõ nhất ở cách họ đánh giá các nhân vật văn học. Phan Tất Chánh (Phan Trần) và Thuý Kiều (Đoạn trường tân thanh) bị đưa vào lời răn dạy “Đàn ông chớ kể Phan Trần, Đàn bà chớ kể Thuý Vân, Thuý Kiều” một phần là vì những nhân vật này đã để cho tình cảm bộc lộ quá cuồng nhiệt, quá say đắm: Phan sinh vì quá nhớ thương người yêu mà toan tự tận, còn Thuý Kiều dám “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” để sang nhà Kim Trọng. Có thể thấy, việc đòi hỏi sự trung hậu, thuần chính, có mức độ của văn học nghệ thuật đã ảnh hưởng rất lớn đến cách phê bình của nhà nho. Bên cạnh đó, một tác phẩm hay theo quan điểm của Nho giáo còn phải biết cân bằng, hài hoà giữa “văn” (hình thức) và “chất” (nội dung).

Mọi sự thái quá đều không tốt, như Khổng tử đã khẳng định: “Chất thắng văn tắc dã, văn thắng chất tắc sử” (Chất phác quá, thiếu văn vẻ thì quê mùa, thô kệch; còn văn vẻ quá, thiếu chất phác thì chỉ là những lời nói suông, sáo rỗng). Cái bản chất cũng là cái phù hợp với đạo, nên không cần tô vẽ vẫn đẹp, bởi vậy, “từ đạt nhi dĩ hĩ” (Lời nói diễn đạt được nội dung là đủ), không nên trau chuốt, gọt giũa quá mức, vì nó sẽ làm mất đi sự chân xác, thành thực, tự nhiên của tác phẩm. Sau này, Ngô Thì Nhậm cũng bàn: “Thơ mà quá cầu kỳ thì sa vào giả dối, quá trau chuốt thì sa vào xảo trá, hoang lương hiu hắt thì phần nhiều sa vào buồn bã. Chỉ có thuần hậu, giản dị, thẳng thắn không giả dối, không xảo trá, không buồn bã mà rốt cuộc chú trọng đến sự ngăn chặn điều xấu, bảo tồn điều hay, mới là những đặc sắc chính của thơ” [93, tr.

Do đó, một trong 23 những lý do khiến Nguyễn Du đánh giá cao tập thơ Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định chính là vì các bài thơ được viết một cách tự nhiên, không cầu kỳ đẽo gọt: “bất tá điêu khắc” (không cần tỉa tót), “bất tại sưu sách” (chẳng phải do người viết dụng công tìm tòi), “cú pháp hữu lực, bất tại dụng lực” (câu thơ có lực nhưng không phải dùng đến lực) (Dẫn theo [62, tr.562-583])… Quan niệm như thế nên nhà nho bày tỏ mối ác cảm với thứ văn chương phù hoa, lả lướt, thiếu nội dung, sáo rỗng, như lời than phiền của Vũ Khâm Lân, Phạm Đình Hổ về văn học cuối đời Lê: “Kỳ dị thay cái gọi là văn chương thời bây giờ! Họ chỉ bo bo đi tìm kiếm những lời cũ kỹ trên mặt giấy, chắp vá, bớt thêm để đi tới cái thế đối ngẫu, mà không có cái hay của việc vận ý tìm lời. Với nghị luận thì không đủ phù hợp nhân tình, thoả đáng vật lý. Với phép tắc thì ngày càng rơi vào hư phù lả lướt. Đúng như nhà trò bôi son trát phấn, để mua vui cho người đời trong chốc lát, mà người hiểu biết đã sớm hay là nó không thoả đáng với sự việc trong đời (…) Năm sáu mươi năm gần đây, kẻ trên nó thì dạy nó, kẻ dưới nó thì học nó, đua nhau theo đòi cái ngọn của từ chương, tỉa tách chạm trổ, hết mực xa hoa; cỏ biếc trăng non, thực là tinh xảo.

Nhưng tìm xem nó có điều gì quan hệ tới quốc kế dân sinh thì tuyệt nhiên vắng bóng” [93, tr.61]; “Những kẻ chuộng công danh lúc bấy giờ thì chỉ theo đòi hư vị, nhặt lấy những chữ bã mía của tiền nho, tập làm cái lối văn chương hoa hoét, chớ không có căn bản gì cả” [93, tr. Trong bối cảnh đầy rẫy các loại văn xu thời, hào nhoáng, khinh bạc ấy, những câu thơ “tuy mộc mạc, quê mùa nhưng ý lại trung hậu, có thể thấy được phong tục thuần phác lúc đó” như “Thời hân phùng khất trị/ Thần hạnh thú tam thê” (Mừng gặp thời thịnh trị/ Thần may lấy vợ ba), theo Vũ Khâm Lân, “nên khen, không nên chê bai là quê mùa mới phải”, để có thể “trừ bỏ loại văn phù hoa, trống rỗng, để vãn hồi nền văn chương trong sáng, chân thực” [93, tr. Từ ví dụ này, có thể thấy, mặc dù yêu cầu “văn chất bân bân”, nhưng rõ ràng “chất” vẫn là phương diện được nhà nho ưu tiên hơn cả. Điều cốt lõi của tác phẩm văn học là cái đạo được thể hiện, còn nghệ thuật chỉ là phụ.

Bởi vậy, khi đánh giá tác phẩm của người khác, nhà nho có khuynh hướng quan tâm tới nội dung biểu đạt chứ ít khi bàn luận về các phương diện hình 24 thức. Sự khiêm tốn của Doãn Uẩn ở lời bạt Dương mộng tập (Hà Tông Quyền) thực chất lại là sự không chú trọng của nhà nho nói chung đối với “văn”: “Còn như đối với sự tinh tế của cách luật, sự âm vang của vần luật, sự cao nhã của lý trí, phải tìm nó nơi người xưa, còn tôi chưa quen với Phong Tao, nên chưa dám đem nó để bình luận sự lớn lao của ông vậy, cho nên không dám dài lời thêm nữa” [117, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Luận Văn Thạc Sĩ: Hệ Thống Lời Bình Trong Truyền Kỳ Mạn Lục Của Nguyễn Dữ Và Mối Quan Hệ Với Chính Văn" khám phá sâu sắc hệ thống lời bình trong tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Dữ, từ đó làm rõ mối quan hệ giữa lời bình và chính văn. Tác giả không chỉ phân tích cách thức mà lời bình góp phần làm phong phú thêm nội dung và ý nghĩa của tác phẩm, mà còn chỉ ra những ảnh hưởng của nó đến cách tiếp cận và hiểu biết của độc giả về văn học cổ điển Việt Nam. Tài liệu này mang lại cho người đọc cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật ngôn từ và cách thức thể hiện tư tưởng trong văn học, từ đó nâng cao khả năng phân tích và cảm thụ văn chương.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ và văn học, hãy tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học khảo sát từ ngữ một số tác phẩm hán văn đông kinh nghĩa thục, nơi bạn có thể tìm hiểu về ngôn ngữ Hán và ảnh hưởng của nó đến văn học Việt Nam. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ tìm hiểu phương tiện ngôn ngữ biểu thị ý nghĩa khen chê trong mục ý kiến bạn đọc của báo vnexpress net sẽ giúp bạn khám phá cách thức sử dụng ngôn ngữ trong bối cảnh hiện đại. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ việt nam ngôn từ hội họa trong cung oán ngâm khúc của nguyễn gia thiều sẽ mang đến cho bạn cái nhìn mới mẻ về sự giao thoa giữa ngôn ngữ và nghệ thuật trong văn học Việt Nam.