CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Thơ và đặc điểm ngôn ngữ thơ 1. Quan niệm về thơ Thơ có một lịch sử lâu dài hơn so với các thể loại văn học khác. Ở châu Âu, định nghĩa sớm nhất về thơ có thể bắt đầu từ nhà triết học người Hy- Lạp Aristote (384-322) trước Công nguyên: "Thơ là sự mô phỏng động thái con người, được biểu hiện trong ngôn ngữ, với sự trợ giúp của hòa âm và nhịp điệu" [27,102].
Ở Trung Hoa, những bài thơ đầu tiên trong Kinh Thi xuất hiện vào khoảng thế kỷ 12 trước Tây Lịch. Đó là những bài thơ ngắn với những từ ngữ hoa mỹ, âm điệu du dương, thường dùng diễn tả tâm sự, cảnh vật và ca tụng công đức của các bậc đế vương. Đồng thời thể hiện tình cảm của những người dân lao động Trung Quốc. Ở Việt Nam, thơ bắt nguồn từ tục ngữ, ca dao, vốn là những kinh nghiệm được đúc kết thông qua sự trải nghiệm, quan sát các hiện tượng tự nhiên, xã hội, và cả những tiếng nói tâm hồn sáng trong của người bình dân truyền từ đời nọ sang đời kia, như một thứ mật mã trong ngôn ngữ để gửi mãi tới mai sau.
Thơ là một thể loại văn học có phạm vi phổ biến rộng sâu, tác động đến người đọc bằng nhận thức cuộc sống và những liên tưởng, tưởng tượng phong phú. Thơ là tấm gương phản chiếu tâm hồn, là tiếng nói của tình cảm con người và những rung động của trái tim trước cuộc đời. Thơ chú trọng đến cái đẹp, phần thi vị của tâm hồn con người và cuộc sống khách quan. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi xin nêu một số quan điểm về thơ của các học giả, nhà thơ, nhà nghiên cứu trong nước và thế giới như sau: - Bạch Cư Dị, một nhà thơ nổi tiếng đời Đường, Trung Quốc, quan niệm: “Cái gọi là thơ thì cảm hóa người ta không gì bằng tình cảm.
Không thể bắt đầu bằng cái gì khác ngoài ngôn ngữ. Không gì thân thiết bằng âm thanh. Không gì sâu sắc bằng nghĩa lý. Gốc của thơ là tình cảm.
Lá của thơ là ngôn ngữ. Hoa 12 của thơ là âm thanh. Quả của thơ là nghĩa lý” [19,68]. Với quan niệm này, Bạch Cư Dị muốn chỉ mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ và giá trị tư tưởng của thơ.
Trong đó, nguồn gốc của thơ là tình cảm và ngôn ngữ thơ phản ảnh tình cảm của con người. - Ở Ấn Độ, nhà thơ, triết gia nổi tiếng R.Tagor cho rằng: “Thơ dạy người ta cảm nhận đời sống một cách tinh tế và sâu sắc. Thơ mở rộng và nâng cao tâm hồn người đọc. Thơ giáo dục con người về cái đẹp” [14,79].
Tagor đề cập đến giá trị giáo dục của thơ. Đó là một trong những giá trị quan trọng, có tác động mạnh mẽ tới tâm hồn người đọc và làm thay đổi tư tưởng, cảm xúc của người đọc. - Nhà thi pháp học Nga M. Bakhin cho rằng: “Thơ là tiếng nói độc bạch, chẳng hạn một bài thơ diễn đạt một nỗi oán thán, một niềm vui, một nỗi nhớ, một suy tưởng” [54,121].
Quan niệm này nhấn mạnh cái tôi trữ tình trong thơ. - Nhà thơ Pháp A. Lamartine cho rằng: “Thơ là hiện thân của những gì thầm kín nhất của con tim và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người và cho những hình ảnh tươi đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất của thiên nhiên” [46,203]. - Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) quan niệm:“Cái gọi là thơ thì không phải láu lưỡi trong tiếng sáo, chơi chữ dưới ngòi bút thôi đâu, mà là để ngâm vịnh tính tình, cảm động mà phát ra chí nữa…” [49,97].
Theo Nguyễn Bỉnh Khiêm, thơ là kết tinh của cảm xúc và nghệ thuật, là biểu hiện của đạo đức và ý chí. Thơ thể hiện khát vọng sống, thể hiện cảm xúc và nỗi lòng của con người. - Nhà thơ Phan Ngọc từng phát biểu: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc, và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này” [37,98]. Qua phát biểu “lạ” này, Phan Ngọc muốn đề cao giá trị của ngôn từ trong thơ.
Ngôn từ trong thơ phải được chắt lọc, gọt rũa tỉ mỉ để đạt tới sự kết tinh giữa cảm xúc và lý trí. 13 - Nhà thơ Chế Lan Viên quan niệm: “Thơ là một sản phẩm của tâm hồn, trí tuệ con người…Thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống, nhưng phải đi qua một tâm hồn, một trí tuệ và khi đã đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ ấy phải in dấu vào đó thật sâu sắc, càng cá thể, càng độc đáo, càng hay” [62, 26]. Theo Chế Lan Viên, thơ là kết tinh của tâm hồn và trí tuệ. Thơ phản ảnh thực tại, tác động trở lại thực tại để tạo dấu ấn trong thực tại.
Tóm lại, trong quá trình vận động, phát triển của đời sống xã hội sẽ còn nhiều quan niệm mới về thơ ra đời. Tuy nhiên, chúng tôi xin dẫn ra định nghĩa về thơ trong cuốn: “Từ điển thuật ngữ văn học” làm cơ sở triển khai đề tài: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [61,108]. Đặc điểm của ngôn ngữ thơ Tìm hiểu về đặc điểm của ngôn ngữ thơ, chúng tôi xem xét ở bốn bình diện: thể loại, ngữ âm, từ vựng và cú pháp. Về thể loại Theo tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, các thể thơ đã có những diện mạo mới, phong phú, đa dạng và nhiều màu sắc.
Từ ngợi ca phong hoa tuyết nguyệt, xưng tụng bốn mùa thiên nhiên tươi đẹp đến ngẫm ngợi về thế thái, nhân tình, rồi lãng mạn, mộng mơ, ai ca, thần bí, triết học…Mỗi thể thơ sẽ thích hợp với một hoàn cảnh nhất định và cũng tùy tâm trạng, thời điểm, hoàn cảnh, thời gian, không gian, đối tượng sáng tác…mà người làm thơ chọn cho mình một loại hình thơ như: trường ca, truyện thơ, thể thơ lục bát, thơ Đường luật… Ở Việt Nam, cùng với những thăng trầm của lịch sử cũng xuất hiện nhiều thể thơ khác nhau, phản ánh cuộc sống và quá trình phát triển của xã hội, tiêu biểu là một số thể thơ sau: - Thơ lục bát: Là thể thơ đặc biệt của Việt Nam. Vần thơ lục bát có tiếng 2, 4, 6 – bằng, trắc, bằng; tiếng 2, 4, 6, 8 – bằng, trắc, bằng, bằng; tiếng thứ 6 của câu lục vần với tiếng thứ 6 của câu bát; tiếng thứ 8 của câu bát vần với tiếng 14 thứ 6 của câu lục tiếp theo. Trong câu bát, tiếng 6 và tiếng 8 tuy cùng vần bằng nhưng một tiếng có dấu huyền và một tiếng không có dấu. Ví dụ: …Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Ðông Một người chín nhớ mười mong một người.
Gió mưa là bệnh của trời Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng… (Tương tư, Nguyễn Bính) - Thơ song thất lục bát: Cũng là một thể thơ đặc biệt của Việt Nam, gồm hai câu bảy chữ và hai câu lục bát. Trong câu thất trên, tiếng thứ 3 là trắc, tiếng thứ 5 là bằng, tiếng thứ 7 là trắc; trong câu thất dưới, tiếng thứ 3 là bằng, tiếng thứ 5 là trắc, tiếng thứ 7 là bằng. Hai câu lục bát theo luật thường lệ. Tiếng cuối câu thất trên vần với tiếng thứ 5 câu thất dưới, tiếng thứ 7 câu thất dưới vần với tiếng thứ 6 câu lục, tiếng thứ 6 câu lục vần với tiếng thứ 6 câu bát.
Và tiếng thứ 8 câu bát vần với tiếng 5 của câu thất khổ tiếp theo. Tuy nhiên, tiếng cuối câu bát cũng có thể vần với tiếng 3 câu thất, biến tiếng này đổi sang vần bằng. Ví dụ: …Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt, Xếp bút nghiên theo việc đao cung. Thành liền mong tiến bệ rồng, Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.
(Bản dịch Chinh phụ ngâm, Đoàn Thị Điểm) - Thơ tự do: + Về hình thức: Số chữ trong mỗi câu và số câu, số khổ trong mỗi bài thơ không giới hạn. Không có những khái niệm về niêm, luật, đối. Không có những quy định về vần, nhịp. + Về nội dung: Thường có nhiều âm thanh, hình tượng, màu sắc đa dạng và phong phú, biểu thị bởi cách dùng từ mới lạ, mang tính cách tân, không hàm chứa những hình ảnh cũ kỹ, xáo mòn.
Thậm chí, những từ chỉ những vật thể 15 bình thường hay tầm thường, những sinh vật bé bỏng, gớm giếc cũng được sử dụng. Có những khái niệm trừu tượng, siêu thực, hoang tưởng, phi vật thể, đôi khi quái dị đan xen vào nhau thay thế cho những hình tượng cụ thể, quen thuộc. Lời kết đôi khi, hoặc thường xuyên được bỏ ngỏ, không tròn trịa, không có đầu, có đuôi như thơ cũ, để tùy người đọc kết luận và tưởng tượng. Ý thơ cũng đa dạng, không gò bó và đa phần đều đề cập đến những vấn đề cốt lõi của nhân sinh, của kiếp người.
Vì vậy, thơ tự do thường được hiểu một cách đơn giản và sai lầm như là một loại thơ rối rắm, tối nghĩa, khó hiểu, khó cảm thụ, khó đọc và khó nhớ. Thật ra không phải vậy, thơ tự do cho chúng ta được bay bổng, tự do trong cảm nhận và trải nghiệm cuộc sống, giúp chúng ta dễ dàng hóa thân vào nhân vật trữ tình một cách sâu sắc nhất, để từ đó vốn sống của chúng ta phong phú thêm. Về ngữ âm Âm do sự nhóm họp của một hoặc nhiều nguyên âm tạo nên. Những âm gần giống nhau, không kể các phụ âm đứng trước hay đứng sau hay sự tác động của các dấu gây sự trầm bổng của âm, tạo nên vần trong thơ.1: Bảng phân loại các loại âm Loại Tên các thanh Dấu chỉ thanh Ghi chú thanh phù bình thanh không có dấu Bằng trầm thượng dấu huyền thanh phù thượng thanh dấu ngã (~) Trắc trầm thương dấu hỏi (?) thanh dấu sắc (') phù khứ thanh dấu nặng (.) trầm khứ thanh 16 Riêng cho các tiếng phù nhập thanh dấu sắc (') đằng sau có phụ âm t, c, trầm nhập thanh dấu nặng (.
Nếu lựa từ có âm và thanh tương hợp thì khi đọc lên sẽ nghe êm tai, ta gọi lời văn có vần. Hai tiếng vần với nhau khi có âm tương tự và có cùng thanh. Trong thơ, vấn đề hợp vần là điều cốt yếu. Sự phối trí âm thanh, nhịp điệu là yếu tố cơ bản của thơ.
Khi nói tới đặc trưng ngữ âm trong thơ là ta nói tới cách sử dụng các nguyên âm, phụ âm và cách tổ chức thanh điệu, nhịp điệu.