Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu 1. Một số khái niệm và thuật ngữ có liên quan 1. Phát triển Theo triết học phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu. Theo Raanan Weitz, 1995 phát triển được coi là một quá trình phát triển liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và giúp phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội (Dẫn theo Giáo trình Quy hoạch phát triển nông thôn, 2004). Theo Phạm Thị Lý, Nguyễn Thị Yến và cs, 2016, phát triển kinh tế là sự gia tăng về số lượng và sự thay đổi về chất lượng của đời sống kinh tế - xã hội. Phát triển kinh tế và sự tăng lên về cơ sở vật chất và sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao.
Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc. Bản địa Loài bản địa hay giống địa phương là một thuật ngữ trong địa lý sinh vật chỉ về một loài được định nghĩa là có nguồn gốc (hoặc gốc gác địa phương) trong một khu vực nhất định hoặc hệ sinh thái nếu có sự hiện diện của chúng trong khu vực, là kết quả của quá trình tiến hóa tự nhiên và không có sự can thiệp của con người. Mọi sinh vật tự nhiên (trái ngược với một sinh vật được thuần hóa) có phạm vi tự nhiên riêng của mình, trong lãnh địa đó, nó được coi là bản địa. Bên ngoài phạm vi bản địa này, một loài có thể được du nhập bởi hoạt động của con người nó sau đó được gọi là một loài du nhập trong các khu vực mà nó được đưa vào.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Cây bản địa là những loài cây có phân bố tự nhiên tại địa phương, nó còn là những loài cây được quy hóa trong nội bộ một quốc gia. Thậm chí có lúc còn được hiểu bao gồm cả những loài cây nhập nội nhưng đã sống lâu đời, đã thích nghi và hòa nhập vào các hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn tại chỗ. Một loài cây bản địa không nhất thiết phải là loài đặc hữu. Trong sinh học và sinh thái học, phương tiện đặc hữu độc quyền nguồn gốc từ các sinh vật của một địa điểm cụ thể.
Một loài cây bản địa có thể xảy ra trong các khu vực khác hơn. Thuật ngữ loài đặc hữu và loài bản địa không có nghĩa là một sinh vật nhất thiết phải có nguồn gốc hoặc phát triển ở nơi nó được tìm thấy. Về mặt tự nhiên, sự phân bố của các loài sinh vật (động vật, thực vật) phụ thuộc vào phân bố địa lý của nhiều loài và được giới hạn bởi các hàng rào tự nhiên do chính các yếu tố môi trường và khí hậu. Các đại dương, sa mạc, đỉnh núi, và những dòng sông đều là những hàng rào ngăn cản sự di chuyển phát tán của các loài.
Do sự cách ly địa lý, quá trình tiến hóa được phân ly theo nhiều hướng khác nhau tại các vùng của trái đất. Các hòn đảo, những nơi cư trú biệt lập cách ly hoàn toàn có xu hướng phát triển các loài đặc hữu. Lợn bản địa Lợn bản địa là giống vật nuôi bản địa, được đồng bào dân tộc thiểu số như: Mán, Mường, Mông, Tày,… nuôi từ rất lâu đời với phương thức nuôi chăn thả tự do, một số ít nuôi nhốt hoặc bán nhốt nhưng không thâm canh, chỉ cho ăn bằng thức ăn tận dụng (rau rừng, bột ngô, phụ phẩm,. Hiện nay, quần thể lợn bản địa ở nước ta đã bị lai tạp nhiều, phân bố ở khắp các vùng núi cao của các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta.
Lợn bản địa có ưu điểm là ăn tạp, có sức đề kháng cao với dịch bệnh, chất lượng thịt thơm ngon. Thông thường, lợn bản địa có tầm vóc nhỏ, khi trưởng thành thường chỉ đạt 45 - 50 kg/con, thân hình gọn và chắc chắn; bụng không chảy sệ, có từ 7-8 vú; mình lợn thường ngắn, tai nhỏ dựng đứng, lưng thẳng hoặc hơi võng; lông đen, dài và cứng; da đen tuyền; chân nhỏ, đi móng, bốn móng chân màu trắng từ khuỷu chân xuống đến móng; mặt nhỏ, mõm dài nhọn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vai trò và vị trí của chăn nuôi lợn Chăn nuôi là một ngành có vai trò và vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp, chăn nuôi chiếm một tỷ lệ khá lớn trong thu nhập kinh tế quốc dân và kinh tế hộ gia đình.
Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng là một ngành tạo ra nguồn thực phẩm và các chế phẩm phụ khác cho đời sống nhân dân và xuất khẩu ra thị trường. Nói chung chăn nuôi lợn có một số vai trò nổi bật như sau: Cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người, theo nghiên cứu trong 1 gam thịt lợn nạc cung cấp khoảng 22% nhu cầu protein, cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người. Theo Harris và cs,1956 (Dẫn theo Nguyễn Sinh Huỳnh, 2016) cho thấy cứ 100g thịt lợn nạc có 367 Kcal, 22g protein. Theo nghiên cứu, nền kinh tế phát triển càng, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao dẫn đến nhu cầu tiêu dùng của các loại thực phẩm có chất lượng cao ngày càng được gia tăng, đặc biệt là các loại thực phẩm được chế biến từ các giống lợn đen.
Theo Lê Viết Ly và cs, 2003 (Dẫn theo Nguyễn Sinh Huỳnh, 2016), Ưu điểm của các giống lợn này là thịt thơm ngon, có hương vị đặc trưng và khả năng chống chịu bệnh tật tốt. - Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, hiện nay thịt lợn là nguyên liệu chính cho các công nghiệp chế biến xúc xích, thịt hộp, thịt lợn xay, các món ăn truyền thống của người việt như thịt treo, thịt chua, giò nạc, giò mỡ,. - Chăn nuôi lợn cung cấp nguồn phân bón cho cây trồng, phân lợn là một trong những nguồn phân hữu cơ tốt, có thể cải tạo và nâng cao độ phì của đất. Một con lợn thịt trong một ngày đêm có thể thải 2,5 - 4 kg phân, ngoài ra còn có lượng nước tiểu chứa hàm lượng Nitơ và Phốt pho cao.
- Chăn nuôi lợn góp phần giữ vững cân bằng sinh thái giữa cây trồng, vật nuôi và con người, trong các nghiên cứu về môi trường nông nghiệp, lợn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 là vật nuôi quan trọng và là một thành phần không thể thiếu được của hệ sinh thái nông nghiệp. - Chăn nuôi lợn có thể tạo ra nguồn nguyên liệu cho y học, trong công nghệ sinh học y học, lợn đã được nhân bản gen (Cloning) để phục vụ cho mục đích nâng cao sức khỏe cho con người. - Chăn nuôi lợn làm tăng thu nhập cho các hộ gia đình nông dân, tăng khả năng chi tiêu trong gia đình, đồng thời thông qua chăn nuôi lợn, người nông dân có thể an tâm đầu tư cho con cái học hành cũng như chi tiêu các công việc xã hội khác,. - Lợn là vật nuôi có thể coi như biểu tượng may mắn cho người Á Đông trong các hoạt động tín ngưỡng như "cầm tinh tuổi hợi" hay ở Trung Quốc có quan niệm lợn là biểu tượng của sự may mắn đầu năm mới.
Đặc điểm sinh học và đặc tính kỹ thuật chăn nuôi lợn Lợn là động vật phàm ăn, có khả năng chịu đựng kham khổ cao. Lợn có bộ máy tiêu hóa tốt, có khả năng tiêu hóa thức ăn cao, do đó lợn có thể sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau như tinh bột, thô xanh, rau bèo, củ quả. Nguồn thức ăn chăn nuôi lợn rất phong phú, có thể tận dụng các phụ, phế phẩm của ngành trồng trọt, ngành công nghiệp chế biến thực phẩm. Khả năng tiêu hóa thức ăn của lợn cao nên tiêu tốn ít thức ăn cho 1kg tăng trọng.
Do vậy, lợn rất phù hợp cho chăn nuôi hộ gia đình. Lợn có khả năng sinh sản cao, tái sản xuất đàn nhanh nên lợn hơn hẳn các gia súc khác về mặt sản xuất. Lợn là loại động vật đa thai, bình quân lợn đẻ 1,5 - 2,5 lứa/năm, 8 -12 con/lứa. Các giống lợn vùng núi về sinh sản nói chung thấp, số con sơ sinh trên ổ 5- 6 con/ổ, số lứa đẻ/năm 1-1,2 lứa (Phạm Hữu Doanh và cs, 2000).
Lợn dễ bị dịch bệnh, độ rủi ro cao do khí hậu, thời tiết thất thường, thiên tai bão lụt, hạn hán ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của lợn. Với lợn thịt, chuồng trại cần thoáng mát, có mật độ nuôi thích hợp, diện tích nuôi thích hợp 2 m2/con (Nguyễn Xuân Bình, 2002), lợn phải được tiêm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 phòng đầy đủ trước khi đưa vào nuôi thịt, nếu không phải tiêm bổ sung để bảo vệ đàn lợn an toàn dịch bệnh. Lợn thịt có sự thay đổi khá nhanh về trọng lượng cho nên nhu cầu dinh dưỡng, thức ăn phải phù hợp, cân đối với từng giai đoạn. Cũng như các sản phẩm nông nghiệp khác, lợn thịt còn khó khăn trong vấn đề tiêu thụ sản phẩm đầu ra; giá cả đầu vào, đầu ra luôn biến động do cạnh tranh cung cầu thị trường.
Do đó muốn phát triển ngành chăn nuôi lợn cần phải phát triển đồng bộ hệ thống thu mua, bảo quản, chế biến xuất khẩu,. Các yếu tố ảnh hưởng đến chăn nuôi lợn 1. Điều kiện tự nhiên Lợn là loại động vật có lớp da hầu nhưng không có tuyến mồ hôi, dưới da lại có lớp mỡ dày. Nhiệt độ ảnh hưởng lớn sức tăng trọng của lợn, người ta cho biết khi nhiệt độ tăng lên thì tăng trọng giảm đi 1/3 khi hệ số tiêu tốn thức ăn không thay đổi.
Ẩm độ cũng ngăn cản sự thoát hơi từ hệ thống hô hấp của lợn, như vậy càng tăng thêm nhiệt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của lợn và làm cho hiệu quả chăn nuôi bị giảm sút. Kỹ thuật chăn nuôi Giống Theo Quyết định số 88/2005/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định một số giống lợn như: lợn ỉ, lợn Ba Xuyên, lợn cỏ, lợn Táp ná, lợn Vân pa đã được đưa vào danh mục nguồn gen vật nuôi quý hiếm cần bảo tồn của Việt Nam.