MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết Nền kinh tế nước ta dần phát triển cùng với đó là đời sống người dân được cải thiện, nhu cầu người dân ngày càng đa dạng hơn. Người dân có xu hướng tiêu dùng các sản phẩm có chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Lợn đen là một trong những giống lợn có sức đề kháng khá tốt, không kén thức ăn, dễ nuôi, thích nghi với điều kiện sống của vùng núi, khí hậu khắc nghiệt, chịu lạnh tốt.Chất lượng thịt so với giống lợn trắng thì cũng thơm ngon hơn và được ưa chuộng hơn trên thị trường. Với xã Cao Bồ một xã vùng III của huyện Vị xuyên con lợn đen bản địa là loài vật nuôi quen thuộc với mọi hộ gia đình.
Nó gắn liền với quá trình sinh sống và lao động của người dân trên địa bàn xã qua rất nhiều thế hệ. Đối với các giống lợn đen bản địa tại xã Cao Bồ có đặc điểm là phàm ăn, chống chịu bệnh tốt, thích nghi rất tốt với khí hậu của xã. Đặc biệt giống lợn này có giá trị kinh tế cao vì chúng là nguồn thực phẩm đặc sản. Trước đây các hộ dân chăn nuôi để nhằm mục đích tự cung, tự cấp, phục vụ nhu cầu trong gia đình vào các dịp như đám hỏi, ma chay, dựng nhà, lễ hội,…Những năm gần đây các hộ dân đã mở rộng quy mô chăn nuôi và có thể xuất bán ra thị trường góp phần cải thiện kinh tế và thu nhập của hộ dân.
Tuy nhiên quy mô của các hộ vẫn còn rất manh mún, nhỏ lẻ, chăn nuôi theo tự phát, kỹ thuật chăn nuôi theo thói quen và kinh nghiệm truyền thống. Nhu cầu của thị trường trong những năm gần đây là rất lớn và không đủ cung ứng cho thị trường quanh khu vực. Mặt khác xã có nguồn thức ăn dồi dào, diện tích đất rộng, nguồn lao động dồi dào,… nên xã rất có tiềm năng phát triển mô hình này. Để thấy được hiệu quả kinh tế, tận dụng những thuận lợi, khắc phục những khó khăn và thực trạng trên tôi lựa chọn thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình chăn nuôi lợn bản địa của các hộ và đề ra một số giải pháp mở rộng quy mô trên địa bàn xã Cao Bồ huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang”.
Mục đích nghiên cứu đề tài 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở lý luận và thực tế đề tài tập trung đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình chăn nuôi lợn bản địa của các nông hộ và đưa ra giải pháp nhằm phát triển bền vững mô hình chăn nuôi này trên địa bàn xã Cao Bồ. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa và góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho chăn nuôi lợn của các hộ gia đình. - Đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn đen bản địa xã Cao Bồ của các nông hộ trên địa xã trong giai đoạn từ năm 2017 - 2019.
-Đánh giá thực trạng, đánh giá hiệu quả kinh tế và đề xuất một số giảipháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn đen bản địa tại địa bàn xã Cao Bồ huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang. Ý nghĩa của đề tài • Ý nghĩa trong học tập Giúp cho sinh viên nắm vững hơn những kiến thức đã được học cũng như được trải nghiệm giữa lý thuyết và thực hành trong các môn khoa học khác nhau như: phát triển nông thôn, kinh tế phát triển nông thôn, kinh tế nông nghiệp, khuyến nông,.khi đó nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập của mỗi sinh viên. Tạo cơ hội cho sinh viên có điều kiện làm quen và trải nghiệm thực tế để hoàn thiện bản thân hơn về cả kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm trong cuộc sống. Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại cho sinh viên những kiến thức đã học và làm quen dần với công việc thực tế.
Nghiên cứu đề tài giúp cho sinh viên làm quen với một số phương pháp nghiên cứu một đề tài khoa học cụ thể. • Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài này là cơ sở tiễn cho các hộ dân, chính quyền địa phương xây dựng định hướng phát triển, giải quyết khó khăn trở ngại nhằm phát triển chăn nuôi và chăn nuôi lợn bản địa nói riêng theo hướng phát triển bền vững. c 3 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Một số khái niệm về chăn nuôi lợn và hiệu quả kinh tế 2.
Một số khái niệm cơ bản về chăn nuôi - Khái niệm chăn nuôi: Theo quy định của khoản 1 điều 2 luật Chăn Nuôi năm 2018: Chăn nuôi là ngành kinh tế - kỹ thuật bao gồm các hoạt động trong lĩnh vực giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, điều kiện chăn nuôi, chế biến và thị trường sản phẩm chăn nuôi. - Chăn nuôi nông hộ là hình thức tổ chức hoạt động chăn nuôi tại hộ gia đình [14]. -Lợn bản địa là loài vật nuôi được các đồng bào dân tộc vùng núi (Mường, Dao) nuôi từ rất lâu đời với phương thức chăn nuôi thả tự do, một số ít nuôi nhốt nhưng không thâm canh chỉ cho ăn bằng thức ăn tận dụng (rau rừng, bột ngô, phụ phẩm nông nghiệp,…) [1]. Giới thiệu vắn tắt về một số giống lợn đen bản địa Theo thống kê, Việt Nam có tới 20 giống lợn bản địa như lợn Ỉ, lợn Móng Cái, lợn Thuộc Nhiêu, lợn Hung (Hà Giang), lợn Vân Pa (Quảng Trị), lợn Mường Khương (Lào Cai), lợn Táp Ná (Cao Bằng), lợn Lửng Phú Thọ, lợn đen 14 vú Mường Lay (Điện Biên), lợn nâu (Sìn Hồ - Lai Châu).
Các giống lợn bản địa chủ yếu được bà con các dân tộc miền núi khắp các vùng từ Móng Cái (Quảng Ninh) qua dãy Trường Sơn đến Bình Phước lưu giữ và chăn nuôi ở quy mô nhỏ với phương thức thả rông. Tuy nhiên trong những năm gần đây nhiều người đang quay trở lại chăn nuôi các giống lợn bản địa vì các ưu điểm: thịt ngon, ít bệnh tật, giá trị kinh tế cao, chi phí đầu tư (chuồng trại, thức ăn…) thấp, nhu cầu thị trường cao[5]. * Một số giống lợn đen bản địa: + Lợn Táp Ná: Có nguồn gốc từ một giống lợn địa phương của vùng núi Cao Bằng. c 4 Đặc điểm là: đầu to vừa phải, tai hơi rủ cụp xuống, bụng tuy to nhưng không bằng giống lợn Móng Cái, bụng không sệ và võng xuống, chân to, cao, chắc khỏe, mặt thẳng và không nhăn, lợn Táp Ná có từ 8 -12 vú.
Khả năng chống chịu bệnh tật của lợn Táp Ná được đánh giá là tốt nhất trong các giống lợn nội của Việt Nam [21]. +Lợn Lửng: Là giống lợn của một số thôn bản của các xã vùng sâu, vùng xa như Xuân Sơn, Vĩnh Tiền,Yên Sơn, Đông Cửu (Phú Thọ). Chúng có một số đặc điểm như tầm vóc nhỏ, toàn thân đen tuyền, trán nhô, mặt phẳng, mõm dài, tai chuột, chân nhỏ. Thịt lợn Lửng thơm và ngon như thịt lợn rừng.
Trọng lượng 12 tháng tuổi khoảng 17 -30kg [14 ]. + Lợn Vân Pa: Nguồn gốc chủ yếu ở tỉnh Quảng Trị. Đặc điểm ngoại hình: hình dáng như con chuột, màu lông, da đen bạc, thỉnh thoảng có phớt màu vàng hung. Lưng thẳng thân hình gọn, đầu to, cổ to, mõm nhọn, tai nhỏ.
Tỷ lệ nạc cao và tỷ lệ mỡ thấp, thịt có mùi vị thơm ngon [7]. + Lợn đen Mường Lay (Điện Biên): Đây là giống lợn đen phàm ăn, phát triển mạnh, thích nghi tốt với điều kiện khắc nghiệt, khả năng chống chịu bệnh cao. Lợn đen Mường Lay có khả năng sinh sản tốt, mỗi lứa đẻ trung bình 12-15 con, thậm chí tới 20 con/lứa. Nuôi lợn đen Mường Lay ít tốn thức ăn nhưng chúng vẫn lớn đều, thịt săn chắc, thơm và ngọt.
Do đó thịt của chúng được coi là thực phẩm sạch và được nhiều người ưa chuộng. Có 3 nhóm lợn Mường Lay: Nhóm 1: Đen tuyền, lưng thẳng, có 14 vú, đầu núm vú cách mặt đất 10 - 15 cm. Nhóm 2: Có 4 - 6 đốm trắng ở đầu, chân, trán, đuôi, 14 vú, lưng thẳng, đầu núm vú cách mặt đất 10 -15cm. Nhóm 3: Có 14 vú nhưng lưng hơi võng, bụng hơi xệ, đầu núm vú không chạm sát mặt đất[15].
c 5 + Lợn Mường Khương: Là giống lợn địa phương có từ lâu đời, gắn liền với đời sống người H’Mông và được nuôi nhiều nhất ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Lợn có màu lông đen tuyền hoặc đen có đốm trắng ở đầu, đuôi và ở chân, lông thưa và mềm.Đa số lợn có tầm vóc to cao, bốn chân khỏe, lưng ít võng, mõm thẳng và dài.Ở các lứa tuổi khác nhau, tỷ lệ thịt và mỡ của lợn cũng khác nhau.Đặc điểm nổi bật của giống lợn này là có khả năng chống chịu tốt với các điều kiện chăn thả ở các vùng núi cao[25]. + Lợn Ỉ: Có nguồn gốc ở miền Bắc Nam Định, hiện giống lợn này đang ở trong tình trạng nguy kịch và chỉ còn sót lại ở một số xã của tỉnh Thanh Hoá. Qua một thời gian dài, giống lợn Ỉ mỡ đã tạp giao với các nhóm giống lợn khác và trở thành giống lợn Ỉ ngày nay với hai loại hình chính là Ỉ mỡ và Ỉ pha.
Chúng có một số đặc điểm ngoại hình chung như da đen bóng, mặt nhăn, mắt híp, nọng cổ, má chảy sệ, chân thấp, mõm ngắn, bụng xệ quét đất. Lợn Ỉ có những đặc điểm di truyền quý giá như thành thục sớm, mắn đẻ, khéo nuôi con, khả năng sử dụng tốt các loại thức ăn thô xanh, khả năng chống chịu bệnh tốt[22]. + Lợn Cỏ: Nguồn gốc được xác định ở miền Trung, được phân bổ chạy dọc theo dãy Trường Sơn. Đặc điểm ngoại hình mõm dài, xương nhỏ, chân yếu và đi bàn, bụng xệ, da mỏng, lông thưa.
Chúng có màu da và lông đen tuyền hoặc lang trắng [25]. +Lợn đen Lũng Pù (Lợn Mèo Vạc, Hà Giang): Giống lợn quý của người Mông, có tầm vóc to lớn.Chúng có da và lông đen trừ 6 điểm trắng ở trán, 4 cẳng chân và chóp đuôi. Lông dày và ngắn,da thô, tai nhỏ cụp, mõm dài trung bình, lưng không võng. Giống lợn này mang những đặc điểm quý như khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu khắc nghiệt của vùng núi cao, dễ nuôi, phàm ăn, sức đề kháng cao, tính chống chịu bệnh tốt.
So sánh với các giống lợn Việt Nam, lợn đen Lũng Pù có tốc độ tăng trọng khá cao, thịt lại thơm ngon [13]. c 6 + Lợn khùa(Quảng Bình) Giống lợn khùa của người dân tộc thiểu số phân bố dọc dãy Trường Sơn trên địa bàn tỉnh Quảng Bình có thịt thơm ngon, tỷ lệ nạc cao, thịt mỡ ăn giòn, chắc.