Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Lợn rừng Thái Lan và lợn địa phương * Lợn rừng Thái Lan Lợn rừng (Sus Scrofa), ở châu Âu gọi là (Sus scrofa ferus) và châu Á (Sus orientalis, Sus cristatus, Sus vittatus) là tổ tiên của lợn nhà hiện nay. Căn cứ vào hình dáng của tai, người ta chia cả hai nhóm lợn nguyên thuỷ châu Âu và châu Á thành hai loại: Lợn tai dài và lợn tai ngắn.
Hiện tại lợn rừng vẫn còn ở khắp vùng rừng châu Âu và châu Á. Những năm gần đây, do nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, ở Việt Nam cũng như một số nước như Trung Quốc, Thái Lan, đã tiến hành thuần hóa và nuôi dưỡng lợn rừng từ hơn 20 năm nay, bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho người chăn nuôi. Theo Lê Đình Phùng và cs, (2011) [27], lợn rừng Thái Lan có đầu nhỏ, thon dài, có viền trắng hai bên má, tai nhỏ vênh và hướng về phía trước. Màu lông trên cơ thể lợn rừng không đồng nhất; lông bờm tốt và cứng, ở con đực phát triển hơn con cái, một gốc chân lông có 3 ngọn chụm lại thành cụm.
Lợn rừng mới sinh toàn thân có 6 sọc chạy dọc hai bên mình từ gốc tai đến khấu đuôi, sau 5-6 tháng tuổi các sọc này mất hẳn và toàn thân phủ màu đen hoặc nâu đậm. Lợn rừng đẻ tự nhiên không cần sự can thiệp của con người, là loài càm con, nuôi con khéo. Năng suất sinh sản của lợn rừng Thái Lan thấp. Mỗi lứa đẻ khoảng 5,87 con, đến 24 giờ còn 5,2 con/lứa, khối lượng sơ sinh trung bình 0,37 kg/con.
Số con cai sữa ở 120 ngày tuổi đạt 4,43 con/lứa và 13,83 kg/con. Khoảng cách lứa đẻ 229,3 ngày. * Lợn địa phương nuôi tại Ngân Sơn Theo Lê Viết Ly (1994) [21]. Dựa vào màu sắc lông da có thể chia làm 3 nhóm như sau: Nhóm đen tuyền: 4 Toàn thân đen tuyền.
Nhóm này có đặc điểm là tương đối nhỏ, có đặc điểm hoang sơ hơn. Nhóm lợn này được nuôi nhiều ở bà con dân tộc H’mông và dân tộc Dao. Hiện nay số lượng không còn nhiều chỉ chiếm 6,10% - 8,33% đàn lợn nái điều tra, 2,42 - 3,92% đàn lợn thịt. Nguyên nhân là do mặc dù có khối lượng nhỏ, chậm lớn nhưng thịt ngon, nên nhiều người tìm mua bán về dưới xuôi làm suy giảm đáng kể số lượng đàn lợn.
Cần có biện pháp bảo tồn tránh nguy cơ tuyệt chủng. Nhóm lợn đen có một số điểm trắng Toàn thân lợn có màu đen và có điểm trắng ở một số vị trí như gương mũi, 4 ngón chân, giữa trán và đuôi có một nhúm lông màu trắng. Nhóm lợn này được nuôi nhiều ở bà con dân tộc H’mông và dân tộc Dao. Về số lượng đàn lợn này chiếm tỉ lệ tương đối cao trong đàn lợn địa phương.
Trong đàn lợn nái, nhóm lợn đen có một số điểm trắng chiếm từ 40,24% - 58,33% ; đối với đàn lợn thịt chiếm từ 30,99% - 43,79%. Nhóm lợn này được nuôi nhiều ở khu vực các thôn vùng cao của các xã, khối lượng cũng lớn hơn nhóm lợn đen tuyền. Nhóm lợn lang trắng đen Nhóm lợn này có màu lông trắng và đen xen kẽ. Các vết lang trắng không cố định và mức độ lang không giống nhau, con nhiều, con ít.
Các vết lang này được phân bố ở bụng, ngang sườn, cổ, vai, lưng, nhanh hơn được nuôi nhiều ở vùng thấp hơn nơi có người dân tộc Tày sinh sống. Cơ sở khoa học của việc cho lai tạo giữa lợn đực rừng và lợn nái địa phương Lai giống là phương pháp nhân giống bằng cách cho con đực và cái thuộc hai quần thể khác nhau giao phối với nhau để tạo ra thế hệ sau. Hai quần thể này có thể là hai dòng, hai giống hoặc hai loài khác nhau, do vậy đời con không còn là dòng, giống thuần, mà là con lai giữa hai dòng, hai giống khởi đầu là bố mẹ của chúng. 5 Lai giống có hai tác dụng chủ yếu.
Một là tạo được ưu thế lai ở đời con về một số tính trạng nhất định. Các tác động cộng gộp là nguyên nhân của hiện tượng sinh học này. Hai là làm phong phú thêm bản chất di truyền ở thế hệ lai bởi vì con lai có được những đặc điểm di truyền của giống khởi đầu, người ta gọi đó là tác dụng phối hợp. Điều này có nghĩa là lai giống sử dụng được tác động cộng gộp các nguồn gen ở thế hệ bố mẹ.
-Ưu thế lai Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [31], ưu thế lai là hiện tượng liên quan tới sự phát triển mạnh mẽ ở đời sau như : sức đề kháng tốt hơn, sức sản xuất cao hơn bố mẹ. Ưu thế lai hiểu theo nghĩa toàn bộ là sự phát triển mạnh mẽ của toàn bộ khối lượng cơ thể, sự tăng cường trao đổi chất, tăng trọng nhanh hơn, chống đỡ với bệnh tật tốt hơn….Ưu thế lai hiểu theo từng mặt, từng tính trạng : có tính trạng phát triển, có tính trạng giữ nguyên, thậm chí có tính trạng giảm sút so với giống gốc. Cần phân biệt 3 kiểu ưu thế lai sau: - Ưu thế lai cá thể: Là ưu thế lai do kiểu gen của chính con vật gây nên. - Ưu thế lai của mẹ: Là ưu thế lai do kiểu gen mà mẹ con vật gây ra thông qua điều kiện ngoại cảnh cung cấp cho nó.
Chẳng hạn, nếu bản thân mẹ là con lai, thông qua sản lượng sữa, khả năng nuôi con khéo. mà con lai có được ưu thế này. - Ưu thế lai của bố: Có rất ít tính trạng có được ưu thế lai của bố, song cũng có thể thấy rằng, khả năng thụ thai, tình trạng sức khỏe của con đực lai tạo nên ưu thế lai cho đời con của nó. 6 Nếu như giao phối cận huyết làm tăng mức độ đồng hợp, giảm mức độ dị hợp của các gen, thì ngược lại, lai giống làm tăng mức độ dị hợp, giảm mức độ đồng hợp của các kiểu gen.
Các tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản có ưu thế lai cao nhất. Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao, vì vậy để cải tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai giống là giải pháp nhanh hơn, hiệu quả hơn. Hai quần thể vật nuôi càng khác biệt với nhau về di truyền bao nhiêu thì ưu thế lai thu được khi lai giữa chúng càng lớn bấy nhiêu. Ưu thế lai cao nhất ở F1, ưu thế lai ở thế hệ F2 (Tự giao phối giữa F1 x F1, hoặc F1 với dòng bố, mẹ khởi đầu chỉ bằng 1/2 ưu thế lai của F1).
Trong nhiều trường hợp ưu thế lai là biểu hiện cao hơn trung bình của 2 giống gốc. Để tạo ưu thế lai, người ta phải cho con vật nuôi giao phối không cận huyết, nhằm tăng cường mức độ dị hợp bằng cách lai giữa các dòng, giữa các giống, lai xa. Tuy nhiên, mức độ biểu hiện ưu thế lai còn phụ thuộc vào nguồn gốc di truyền của bố mẹ, tính trạng cần xem xét công thức lai và điều kiện nuôi dưỡng. Mức độ ưu thế lai của một tính trạng được tính bằng công thức sau: 1 / 2( AB BA) 1 / 2( A B ) H (%)= x 100 1 / 2( A B ) Trong đó: H là ưu thế lai AB : giá trị kiểu hình trung bình của con lai bố A, mẹ B BA: giá trị kiểu hình trung bình của con lai bố B, mẹ A A: giá trị trung bình của dòng (giống) A B: giá trị trung bình của dòng (giống) B 1.
Cơ sở khoa học về đặc điểm di truyền các tính trạng năng suất sinh sản của lợn - Tính trạng số lượng và sự di truyền của tính trạng số lượng Tính trạng số lượng là những tính trạng mà sự khác, nhau giữa những cá thể, là sự khác nhau về mức độ hơn là sự khác nhau về chủng loại. Tính 7 trạng số lượng còn gọi là tính trạng đo lường, vì sự nghiên cứu chúng phụ thuộc vào sự đo lường. Hầu hết các tính trạng có giá trị của gia súc đều là những tính trạng số lượng. Để giải thích sự di truyền của các tính trạng số lượng , Nilson và Ehle (1908) đã đưa ra giả thiết như sau (trích dẫn từ Trần Đình Miên,1977 ) [23]: Tính trạng số lượng chịu sự tác động của nhiều cặp gen, phương thức di truyền của các cặp gen này tuân theo các quy luật cơ bản của di truyền như phân ly, tổ hợp, liên kết…Mỗi gen thường có tác động cộng gộp lớn hơn.
Tác dụng của nhiều gen khác nhau trên cùng một tính trạng có thể là cộng gộp cũng có thể là không, ngoài ra còn có các kiểu tác động ức chế nhau giữa các gen nằm ở những locus khác nhau. Có hai hiện tượng di truyền cơ bản có liên quan đến tính trạng số lượng và mỗi hiện tượng di truyền này có một cơ sở lý luận cho việc cải tiến di truyền cho giống vật nuôi (Nguyễn Văn Thiện, 1995 ) [31].Trước hết đó là sự giống nhau giữa các con vật thân thuộc và quan hệ thân thuộc càng gần con vật càng giống nhau. Đó là cơ sở di truyền cho sự chọn lọc và sau đó là sự suy hóa cận thân. Thứ hai là hiện tượng ngược lại về sức sống của con lai (heteosis), đây là cơ sở của sự chọn phối để nhân thuần và tạp giao.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến tính trạng số lượng Tính trạng số lượng dễ chịu ảnh hưởng, tác động của môi trường. Vật nuôi sống trong một môi trường nhất định nên sự hình thành hoạt động của tính trạng không những chịu sự chi phối của các gen mà còn chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường. Giá trị kiểu hình của bất kỳ tính trạng số lượng nào cũng được biểu thị qua giá trị của kiểu gen và sai lệch môi trường. P=G+E Trong đó P : Giá trị kiểu hình (Phenotypic Value).
G : Giá trị kiểu gen (Genotypic Value). E : Sai lệch môi trường (Environmental Deviation). 8 Tùy theo phương hướng tác động của các gen alen mà giá trị kiểu gen có thể bao gồm các thành phần khác nhau. G=A+D+I “A” gọi là giá trị cộng gộp, thành phần quan trọng nhất cố định không thay đổi có thể di chuyển được và còn được gọi là giá trị giống của cá thể là cơ sở di truyền của việc chọn giống.
“D” là tính trội (Dominance) là tác động trội của các cặp alen trong cùng một locus nên không có tính trội thì giá trị di truyền và giá trị cộng gộp là bằng nhau.