Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Khái niệm, đặc điểm của thuế Cho đến nay, từ các góc độ nghiên cứu khác nhau các học giả vẫn còn nhiều cách hiểu không giống nhau về thuế. Nhìn chung các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm, chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, chưa phản ánh đầy đủ bản chấtcủa phạm trù thuế. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, nhà nước xuất hiện khi xã hội có sự phân chia giai cấp.
Để duy trì bộ máy hoạt động như: an ninh, quốc phòng; hoạt động bộ máy; sự nghiệp giáo dục, y tế;.; đòi hỏi nhà nước phải có nguồn tài chính để chi. Nguồn tài chính này là do sự đóng góp của mọi thành viên trong xã hội và mang tính bắt buộc.Ăngghen: "Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của những người công dân cho Nhà nước đó là thuế khóa"(Mác - Ăngghen,1962, tập 2). Quan điểm này, thuế chỉ là sự đóng góp của công dân để duy trì quyền lực Nhà nước. Cũng từ luận điểm này, Mác phát triển thêm, trong một nhà nước có giai cấp (giai cấp thống trị) thuế thực ra là khoản đóng góp bắt buộc để duy trì quyền lực của giai cấp đó.
Khi những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, thì họ sẽ không coi thuế là nghĩa vụ của công dân và sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn thuế. Quan điểm này đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà kinh tế có quan điểm xã hội trong việc củng cố lập trường đấu tranh giai cấp. Các quan điểm của các nhà kinh tế đưa ra, mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó không phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này. Gần đây trong một số công trình nghiên cứu về thuế các nhà kinh tế cho rằng, để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa phải nêu bật được các khía cạnh sau: Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các chủ thể; những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt (Mác - Ăngghen, 1962, tập 2; Tổng cục thuế, 2005).
Trên giác độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Trên giác độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Trên giác độ kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước. Những khái niệm về thuế nêu trên mới nhấn mạnh một chiều theo quan niệm của từng góc độ khác nhau, nên chưa thật đầy đủ và chính xác được bản chất của thuế.
Đến nay, tuy chưa có một định nghĩa về thuế thống nhất, nhưng các nhà kinh tế đều cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được bốn khía cạnh sau đây: Một là, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp. Hai là, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước. Ba là, các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật quy định. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Bốn là,việc sử dụng tiền thuế phải dành cho mục đích chung.
Tuy nhiên trong tiến trình phát triển xã hội, việc quy định thuế phải được sử dụng chung cũng là một vấn đề cần xem xét. Có những loại thuế được thu chỉ nhằm mục đích định trước và trao cho một số đối tượng quy định. Dựa vào định nghĩa và các yêu cầu nêu trên, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thuế như sau:Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bặt buộc phải thực hiện theo luật đối với nhà nước không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng. * Quản lý thuế là gì Quản lý thuế là khâu tổ chức, phân công trách nhiệm cho các tổ chức, các nhân trong cơ quan thuế nhằm xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận để thực thi các chính sách thuế.
Quản lý thuế bao gồm các hoạt động của nhà nước có liên quan đến thuế, hoạt động tổ chức, điều hành quá trình thu nộp thuế vào nhân sách nhà nước; xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế; ban hành pháp luật thuế và kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật thuế. * Đặc điểm của Thuế Thuế là một công cụ tài chính của Nhà nước được sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công. Tuy nhiên, thuế khác với các công cụ tài chính khác như phí, lệ phí, tiền phạt,.Điều này thể hiện qua các đặc điểm cơ bản của thuế trong kinh tế thị trường như sau: Thứ nhất, thuếlà khoản trích nộp bằng tiền Trong nền kinh tế thị trường, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, khác với hình thức nộp thuế bằng hiện vật tồn tại từ thời xa xưa hoặc khác với chế độ giao nộp sản phẩm trong nền kinh tế phi thị trường. Nhiều quan điểm cho rằng đây chính là sự khác biệt cơ bản và đầu tiên của thuế trong nền kinh tế thị trường với các nền kinh tế khác.
Chính sự phát triển của hoạt động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 trao đổi hàng hoá bằng tiền đã làm cho thuế phát triển, và ngược lại, việc bắt buộc nộp các khoản thuế bằng tiền đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường bằng cách đòi hỏi người nộp thuế trong trường hợp không có tiền phải đổi những tài sản hiện vật của mình ra thành tiền để thanh toán nợ thuế.Tuy nhiên, hình thức trả thuế bằng hiện vật cũng không mất đi trong hệ thống chính sách thuế đương đại. Một số quốc gia vẫn duy trì hình thức này dưới dạng thanh toán thuế bằng tặng vật với một số hiện vật quý, như khi đào được cổ vật phải nộp thuế cho nhà nước với một tỷ lệ hiện vật tuỳ theo quy định cụ thể. Kỹ thuật này giúp Nhà nước sưu tập được những di sản quốc gia quý giá từ dân chúng để bảo tồn tập trung những giá trị văn hoá của dân tộc, nhân loại. Thứ hai, thuế luôn gắn liền với quyền lực nhà nước Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến pháp - Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế.
Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ bất kỳ một thứ thuế nào cũng chỉ có một cơ quan duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc hội - Cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao. Mặt khác tính quyền lực nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước không thể thu thuế một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật được định trong các văn bản docơ quan quyền lực nhà nước ban hành. Ở các quốc gia, do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hình thành quỹ ngân sách nhà nước và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội nên thẩm quyền quy định, sửa đổi bãi bỏ các luật thuế đều thuộc cơ quan lập pháp. Đây là nguyên tắc sớm được ghi nhận trong pháp luật của các nước.
Chẳng hạn ở nước Anh, Đạo luật về Dân quyền (năm 1688) quy định: Cấm mọi việc thu thuế để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước nếu không được Quốc hội chấp thuận. Ở Pháp, Quốc hội Pháp quy định: Bất cứ một khoản thuế nào nếu không được Quốc hội chấp thuận thì không được áp dụng. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn quy định, sửa đổi hoặc bãi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 bỏ các Luật thuế. Tuy vậy, do yêu cầu điều chỉnh các quan hệ pháp luật về thuế, Quốc hội có thể giao cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định, sửa đổi một số loại thuế thông qua hình thức ban hành Pháp lệnh hoặc Nghị quyết về thuế.
Đây là quan điểm “No Tax, No Law” mà nhiều nước áp dụng. Nghĩa là, công dân không phải nộp bất kỳ loại thuế nào nếu loại thuế đó chưa được ban hành dưới dạng Luật. Theo quan điểm này, công dân không có quyền từ chối trả thuế, cũng không có quyền tự ấn định hay thoả thuận mức đóng góp của mình, mà chỉ có quyền chấp hành. Trường hợp đối tượng nộp thuế nào cố tình không chấp hành sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế của mình theo luật định.Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thuế nhằm phân biệt với tất cả các hình thức động viên tài chính cho ngân sách nhà nước khác.
Thứ ba, thuế gắn liền với thu nhập Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế. Nhà nước thực hiện thu thuế thông qua quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao bắt buộc cho nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc quyền lợi nào khác cho người nộp thuế. Thuế, cho dù dưới bất kỳ hình thức nào đều buộc người trả thuế phải lấy một khoản thu nhập của mình ra thanh toán cho Nhà nước mà không cần biết mình đã chuẩn bị được khoản thu nhập đó hay chưa.