Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ DI ĐỘNG 1. Cơ sở lý luận nâng cao chất lượng dịch vụ di động 1. Tổng quan nghiên cứu Trương Hồng Hà, Chất lượng dịch vụ viễn thông di động tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk, tác giả đã làm rõ thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của KH về chất lượng dịch vụ viễn thông di động tại địa bàn tỉnh đắk Lắk. Với việc nghiên cứu trên một địa bàn cụ thể, tác giả đã đánh giá thông qua các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng và kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ viễn thông di động, qua các yếu tố này, tác giả tiến hành khảo sát đánh giá của các KH khác nhau.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực trạng, nghiên cứu này đã đưa ra các giải pháp về chi phí, chất lượng phục vụ, giá trị gia tăng…nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ trên địa bàn tỉnh Đắc Lắk. Nghiên cứu này đi đến kết luận: doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông cần nghiên cứu và tìm hiểu thị trường nhằm đánh giá những thay đổi của KH về nhu cầu sử dụng DVDD để điều chỉnh chiến lược kinh doanh của mình [29]. Lê Thị Tuyết Mai, trong Nghiên cứu chất lượng dịch vụ mạng điện thoại di động Vinaphone tại Quảng Nam, đã đưa ra các yếu tố chất lượng để xây dựng thang đo thu thập ý kiến đánh giá của KH. Từ đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ tác động đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại VNPT Quảng Nam.
Tác giả trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng DVDD Vinaphone tại Quảng Nam, đã đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ [22]. Vũ Minh Thanh trong công trình nghiên cứu về Chất lượng dịch vụ thông tin di động của Vinaphone, nghiên cứu đã nhận định và đi đến đánh giá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 về các chỉ tiêu và yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ thông tin di động. Trên cơ sở đánh giá vai trò quan trọng của các yếu tố, tác giả luận văn đã nhận định các yếu tố như tài chính, nguồn nhân lực, công nghệ, kinh tế, môi trường chính trị… có ảnh hưởng đến việc KH lựa chọn DVDD để sử dụng. Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được về chất lượng DVDD của Vinaphone, tác giả đưa ra các giải pháp mang tính trọng tâm nhằm tăng cường nâng cao chất lượng DVDD Vinaphone [33].
Nguyễn Xuân Hưng trong công trình nghiên cứu về “Chất lượng dịch vụ viễn thông di động Vietnamobile tại Hà Nội” [25] trên cơ sở tổng quan vấn đề nghiên cứu, đề tài phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng DV viễn thông di động như: các nhân tố trong môi trường nội bộ, các nhân tố trong môi trường vĩ mô và vi mô là cơ sở để triển khai nghiên cứu thực trạng. Từ những hạn chế của thực trạng chất lượng dịch vụ viễn thông di động Vietnamobile tại Hà Nội như vùng phủ sóng chưa rộng ảnh hưởng đến việc giữ chân khách hàng, số lượng cửa hàng quá ít không phục vụ được nhu cầu KH, hãng phải thuê đối tác bên ngoài để kiểm định chất lượng DV….Từ đó, đề tài đề xuất các giải pháp về tăng cường hạ tầng kỹ thuật, tăng cường các điều kiện phục vụ nâng cao chất lượng, tăng cường điều kiện về kiểm tra, giám sát hoạt động kiểm định chất lượng. Trần Hoàng Diệu trong công trình “Nghiên cứu xây dựng công cụ đo kiểm và đánh giá chất lượng dịch vụ di động 4G (LTE)”, đề tài tập trung xây dựng công cụ đo kiểm giám sát chất lượng nhằm đánh giá chất lượng DVDD trên nền tảng 4G (LTE/LTE_A), đó chính là các tham số RSRP, RSRQ, SNR, CSSR, CDR, MOS, Packet loss, Packet delay, Throughput…Ngoài việc đo kiểm các tham số chất lượng mạng và dịch vụ, công cụ đo cũng hỗ trợ tổng hợp các thông tin mạng lưới như Cell ID, LAC, và hỗ trợ đo kiểm Driving Test. Trên cơ sở phân tích thực trạng, trong chương 4 tác giả tiến hành đánh giá công cụ đo kiểm đối với các dịch vụ trên mạng 4G tại Việt Nam [28].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Nguyễn Trung Trường tiến hành nghiên cứu về “Sự hài lòng khách hàng đối với dịch vụ di động 3G của Viettel tại thị trường Hà Nội” [26], nghiên cứu đã trình bày cơ sở lý luận về sự hài lòng của KH đối với dịch vụ, phân tích chất lượng dịch vụ và đo lường chất lượng dịch vụ. Từ đánh giá thực trạng sự hài lòng của KH đối với DVDD 3G của Viettel trên thị trường HN, công trình nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp nhằm gia tăng sự hài lòng của KH như: nâng cao chất lượng kết nối dịch vụ, nâng cao năng lực hỗ trợ dịch vụ khách hàng, nâng cao tính thuận tiện của dịch vụ… Bên cạnh đó, còn có các công trình như: Thái Thanh Hà và Tôn đức Sáu (2007), “Đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ viễn thông di động tại Thừa Thiên – Huế”, Tạp chí Bưu chính viễn thông & Công nghệ thông tin, Kỳ 2, tháng 8/2007. Phạm Đức Kỳ – Bùi Nguyên Hùng (2007), “Nghiên cứu mô hình sự trung thành của khách hàng trong lĩnh vực dịch vụ thông tin di động tại Việt Nam”, Tạp chí Bưu chính viễn thông & Công nghệ thông tin, Kỳ 1, tháng 2/2007. Đinh Thị Hồng Thúy (2008), “Phân tích các nhân tố tác động đến việc lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sỹ khóa 15 – đại Học Kinh Tế TP.
Trần Tuấn Anh (2010), Nghiên cứu phương pháp xác định giá thành dịch vụ viễn thông chiếm thị phần khống chế, Báo cáo nghiên cứu khoa học, Bộ TT &TT. Ngô Hoàng Yến (2010), Nâng cao sức cạnh tranh dịch vụ viễn thông của Tập đoàn Bưu chính viễn thông trong điều kiện là thành viên của WTO, Luận án tiến sĩ , Viện nghiên cứu thương mại, Hà Nội. Các nghiên cứu nói trên đã khái quát về cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng DVDD và đánh giá sự hài lòng của KH về DVDD. Tuy nhiên, đến nay chưa có một công trình nghiên cứu về Nâng cao chất lượng DVDD tại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 VNPT Thái Nguyên, vì vậy, đây là vấn đề mà tác giả luận văn cần phải phân tích và làm rõ.
Các khái niệm cơ bản 1. Dịch vụ Philip Kotler cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất” [27]. Theo Lưu Văn Nghiêm: “Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu.
Sản phẩm của dịch vụ có thể nằm trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất”. Bốn đặc tính cơ bản của dịch vụ: - Tính vô hình: Hàng hóa có màu sắc, mùi vị và kích thước, tuy nhiên đối với dịch vụ thì không có đặc tính này. Do đó, dịch vụ là hàng hóa hữu hình, KH không thể đưa ra cảm nhận của mình bởi tính vô hình của dịch vụ không cho phép KH thử dịch vụ trước khi mua. Do vậy, nhà cung cấp dịch vụ gặp khó khăn trong quảng cáo về dịch vụ.
- Quá trình tiêu thụ và sản xuất thể hiện sự không tách rời: Việc KH được cung cấp và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời với nhau. Nhà cung cấp dịch vụ và KH phải có mặt tại thời gian và địa điểm để tiếp xúc với nhau. Do vậy, chính sự tiếp xúc này khiến cho các yếu tố như: thái độ người cung cấp dịch vụ, trong quá trình cung cấp dịch vụ, thời gian cung cấp dịch vụ, địa điểm và không gian cung cấp dịch vụ khiến cho đánh giá của KH sẽ khác nhau. - Tính không đồng đều về chất lượng: chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào cảm nhận của mỗi cá nhân KH, bởi lẽ, dịch vụ không được cung cấp liên tục và hàng loạt.
Các nguyên nhân người cung cấp dịch vụ có trình độ như thế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nào? Kỹ năng và thái độ trong cung cấp dịch vụ?.làm cho mỗi KH có đánh giá khác nhau về chất lượng. - Không thể hoàn trả: KH không thể tiến hành hoàn trả dịch vụ, KH có thể được hoàn tiền nếu họ không hài lòng về dịch vụ được cung cấp. Trong mối liên hệ giữa con người, đánh giá dịch vụ cần dựa trên cảm nhận và trạng thái tâm lý của mỗi cá nhân khách hàng. Dịch vụ viễn thông di động Mạng điện thoại di động là mạng cung cấp thông tin liên lạc cho KH và thực hiện kết nối thông tin giúp KH trong quá trình sử dụng DV sẽ thiết lập các cuộc gọi và nhận cuộc gọi, nhận tín hiệu và ký hiệu, âm thanh, hình ảnh…Như vậy, các hình thức cung cấp thông tin liên lạc cho KH trên mạng viễn thông di động gọi là cung cấp dịch vụ viễn thông di động.
Trong bối cảnh khoa học công nghệ ngày càng phát triển, mạng điện thoại di động còn phục vụ KH với những tiện ích và thực hiện các chức năng trong lĩnh vực truyền số liệu ngày càng phong phú: đó là thương mại điện tử, truyền thông tin theo yêu cầu và các lĩnh vực giải trí như nghe nhạc, xem phim, truyền hình theo yêu cầu…. Dịch vụ viễn thông di động là dịch vụ thông qua thiết bị đầu cuối (chủ yếu là điện thoại di động) để thiết lập và tạo ra kết nối thông tin giữa hai đối tượng khách hàng riêng biệt, dựa trên hạ tầng mạng viễn thông di động của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động. Hoạt động của điện thoại di động gồm: MSC (mobile switch center): trung tâm chuyển mạch cuộc gọi (còn được gọi là tổng đài). BSC (Base station controller): điều khiển các trạm thu phát BTS.
BTS (Base transceiver station): trạm thu phát sóng. MS (Mobile station): thuê bao di động − HLR : lưu cơ sở dữ liệu thuê bao. AUC : trung tâm nhận thực thuê bao (bảo mật). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.