CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 5: KIẾN NGHỊ VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 9 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NH THƯƠNG MẠI Trong chương này tác giả sẽ trình bày về khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu, các công trình nghiên cứu trước đây. Từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu cho luận văn.1 Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử: 2.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử: Nguồn gốc của dịch vụ ngân hàng điện tử chính là thương mại điện tử.
Xuất hiện cùng với sự ra đời của mạng máy tính, đến nay thương mại điện tử đã trở thành một khái niệm được phổ biến trên toàn thế giới. Thương mại điện tử đã đi vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội, phục vụ mọi nhu cầu và dần không thể thiếu đối với bất cứ ai hoặc quốc gia nào muốn gia nhập và phát triển thương mại. Rất nhanh chóng thương mại điện tử đã là chất xúc tác làm thay đổi cơ cấu hoạt động, phương thức quản lý của mọi tổ chức, chuyển từ những các thức quản lý kinh doanh truyền thống lỗi thời sang những phương thức mới hiện đại nhanh chóng và hiệu quả hơn rất nhiều. Thương mại điện tử được hình thành trên mọi lĩnh vực kinh tế với sự tham gia của rất nhiều doanh nghiệp ở khắp các lĩnh vực, đặc biệt trong số đó có một lĩnh vực mà sự phát triển của thương mại điện tử là không thể tách rời, không thể thiếu trong quá trình phát triển lâu dài đó là ngành ngân hàng.
Trước đây hệ thống ngân hàng hoạt động chủ yếu dựa trên các kênh phân phối truyền thống như chi nhánh, phòng giao dịch, ngân hàng đại lý… Đặc điểm của loại kênh phân phối này là hoạt động chủ yếu dựa trên lao động trực tiếp của đội ngũ cán bộ ngân hàng và khách hàng phải đến giao dịch trực tiếp tại quầy. Tuy nhiên với đà phát triển của hệ thống khoa học công nghệ, hệ thống kênh phân phối truyền thống không thể đáp ứng được nhu cầu giao dịch 24/7 của nền kinh tế. Dịch vụ ngân hàng điện tử dù mới xuất hiện sau này nhưng đã trở thành một dịch vụ không thể thiếu trong chiến lược phát triển của ngành ngân hàng. 10 11 Cho đến nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã định nghĩa: Các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối (Internet và các thiết bị truy nhập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động…) được gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử (TT21/NHNN 2018) Như vậy có thể hiểu dịch vụ ngân hàng điện tử là các dịch vụ ngân hàng được cung cấp thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông. Trong đó, theo Điều 4 Luật Giao dịch điện tử Việt Nam 2005 phương tiện điện tử là các phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học điện tử hoặc công nghệ tương ứng. Mạng viễn thông bao gồm mạng internet, mạng điện thoại, mạng vô tuyến… 2.2 Đặc điểm dịch vụ ngân hàng điện tử: Dịch vụ ngân hàng điện tử không bị giới hạn về không gian, thời gian: Khách hàng không cần đến quầy giao dịch, khách hàng có thể thực hiện giao dịch trực tuyến thông qua các thiết bị kết nối mạng tại bất cứ đâu. Khách hàng có thể tiết kiệm được thời gian đi lại, xếp hàng chờ đợi.
Dịch vụ ngân hàng điện tử có tốc độ xử lý giao dịch nhanh chóng: Dịch vụ ngân hàng điện tử cho phép khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng với thời gian ngắn nhất. Mọi giao dịch diễn ra nhanh chóng tức thời thông qua hệ thống xử lý tự động của ngân hàng. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin hiện nay thời gian xử lý cho một giao dịch ngày càng giảm. Các ngân hàng đều chú trọng việc nâng cấp hệ thống core banking để có thể mang lại những dịch vụ ngân hàng điện tử ổn định nhất, nhanh chóng, tiện lợi nhất cho khách hàng.
Dịch vụ ngân hàng điện tử có chi phí thấp: khách hàng ngoài việc tiết kiệm 11 12 được thời gian đi lại chờ đợi, chi phí cơ hội từ việc tiết kiệm được thời gian thì biểu phí dịch vụ ngân hàng điện tử luôn có chi phí thấp hơn các giao dịch tại quầy. Điều này xuất phát từ việc ngân hàng không phải tốn các chi phí thuê mặt bằng, chi phí lương nhân viên, phí kho bãi… nên khách hàng cũng được hưởng mức phí thấp hơn. Dịch vụ ngân hàng điện tử là hình thức khách hàng tự phục vụ: khách hàng sẽ tự mình thực hiện các giao dịch để đáp ứng nhu cầu của riêng mình thông qua nền tảng được ngân hàng cung cấp.3 Các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử: Internet Banking: là một dạng dịch vụ ngân hàng điện tử, được xây dựng dựa trên hệ thống giao dịch ngân hàng có sẵn nhằm cung cấp cho khách hàng các tiện ích để có thể thực hiện giao dịch như chuyển khoản, thanh toán, nhận tiền… thông qua mạng Internet. Với dịch vụ Internet Banking, khách hàng có thể tự thực hiện các giao dịch ngay tại nhà mà không cần phải ra ngân hàng, vô cùng thuận lợi và tiết kiệm thời gian khi các giao dịch đều sẽ được thực hiện ngay lập tức 24/7.
Chỉ với một chiếc máy tính, laptop hay điện thoại thông minh cùng mã truy cập được ngân hàng cung cấp khi đăng kí dịch vụ Internet Banking là bạn có thể dễ dàng truy cập vào tài khoản cá nhân, chọn lựa hình thức giao dịch phù hợp và thực hiện theo hướng dẫn. Home banking: với ngân hàng tại nhà, khách hàng giao dịch với ngân hàng qua mạng như là mạng nội bộ do ngân hàng xây dựng riêng. Các giao dịch được tiến hành tại nhà, văn phòng, công ty thông qua hệ thống máy tính nối với hệ thống máy tính của ngân hàng. Thông qua dịch vụ home banking, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch về chuyển tiền, liệt kê giao dịch, tỷ giá, lãi suất, giấy báo nợ, báo có… Để sử dụng dịch vụ home banking, khách hàng chỉ cần có máy tính (tại nhà hoặc trụ sở) kết nối với hệ thống máy tính của ngân hàng thông qua mordem – đường điện thoại quay số, khách hàng phải đăng ký số điện thoại và chỉ số điện thoại này mới được kết nối với hệ thống Home banking của ngân hàng.
12 13 Mobile banking: là dịch vụ ngân hàng qua điện thoại mà ngân hàng cung cấp đến khách hàng của mình. Điều kiện để sử dụng dịch vụ Mobile Banking là điện thoại của quý khách hàng phải có kết nối internet. Mobile banking được mã hóa dưới dạng một phần mềm, còn được gọi là một ứng dụng do chính ngân hàng hay là tổ chức tài chính ấy phát hành ra. Call center: Do quản lý dữ liệu tập trung nên khách hàng có tài khoản tại bất kỳ chi nhánh nào vẫn gọi về một số điện thoại cố định của trung tâm này để được cung cấp mọi thông tin chung và cá nhân.
Call center có thể linh hoạt cung cấp thông tin hoặc trả lời các thắc mắc của khách hàng. Nhược điểm của call center là phải có người trực 24/24 giờ. ATM/POS: Đây là dịch vụ giao dịch ngân hàng qua hệ thống máy ATM/POS. Máy giao dịch tự động (ATM): Là thiết bị mà chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt, chuyển khoản, tra cứu thông tin giao dịch thẻ hoặc sử dụng các dịch vụ khác.
Máy chấp nhận thẻ (POS): POS/EDC (Point of Sale/Electronic Data Capture): Là thiết bị thanh toán điện tử hiện đại, được lắp đặt tại các Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) là các cửa hàng, siêu thị, nhà hàng…để chuẩn chi và xử lý trực tuyến các giao dịch thẻ.4 Vai trò của dịch vụ ngân hàng điện tử trong hoạt động ngân hàng: Với đặc tính là các giao dịch hoàn toàn được thực hiện thông qua thiết bị điện tử và mạng viễn thông, sự ra đời của các dịch vụ ngân hàng điện tử đã mang đến nhiều lợi ích thiết thực cho cả ngân hàng, khách hàng và xã hội. Đối với ngân hàng: dịch vụ ngân hàng điện tử mở ra một kênh phân phối mới cho các dịch vụ ngân hàng. Thông qua việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng điện tử, các ngân hàng có thể dễ dàng mở rộng phạm vi hoạt động, tiếp cận với khách hàng mọi lúc, mọi nơi mà không bị giới hạn về không gian, thời gian. Là một giải pháp để các ngân hàng nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng khả năng cạnh tranh.
Thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, các ngân hàng có thể tiến hành các hoạt động xúc tiến, giới thiệu sản phẩm đến khách hàng nhanh 13 14 chóng và thuận tiện hơn. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng như có thể cắt giảm các chi phí liên quan như chi phí văn phòng, chi phí nhân viên hay các chi phí khác về giấy tờ, quản lý hệ thống kho quỹ… Thông qua các dịch vụ ngân hàng điện tử các lệnh giao dịch được thực hiện nhanh chóng tạo điều kiện cho vốn được chu chuyển nhanh, qua đó đấy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, tiền tệ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đây là tiện ích mà các giao dịch kiểu ngân hàng truyền thống khó có thể đạt được so với ngân hàng điện tử. Đối với khách hàng: với việc sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử khách hàng được cung cấp một lượng lớn thông tin liên quan đến ngân hàng, thực hiện các giao dịch nhanh chóng bất cứ khi nào bất cứ nơi đâu mà không cần mất thời gian đến ngân hàng. Thực tế các dịch vụ ngân hàng điện tử rất dễ sử dụng, hiệu quả và giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và chi phí.
Đối với kinh tế xã hội: Dịch vụ ngân hàng điện tử góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế thương mại, dịch vụ, du lịch phát triển. Ưu điểm của dịch vụ NHĐT là có khả năng thu hút khách hàng trên diện rộng, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch ở bất cứ lúc nào (24/7) không giới hạn không gian và thời gian.