Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Hội thoại và đối đáp giao duyên 1. Hội thoại Các nhà ngữ dụng học đặc biệt quan tâm đến vấn đề hội thoại vì hoạt động giao tiếp phổ biến, cơ bản nhất của con người là hội thoại. Theo Nguyễn Thị Tố Ninh [32; tr12], hội thoại “là giao tiếp hai chiều, có sự tương tác qua lại giữa người nói và người nghe và sự luân phiên lượt lời”.
Hội thoại gồm có các dạng cơ bản như: song thoại là một cuộc thoại chỉ gồm có hai nhân vật đối đáp với nhau; tam thoại là hội thoại có ba người và khi có nhiều người tham gia là đa thoại. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về hội thoại. Đỗ Thị Kim Liên trong “Ngữ nghĩa lời hội thoại” định nghĩa: “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hay nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định”. [29; tr103] Đỗ Hữu Châu thì cho rằng:“Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác”.
Theo tác giả Nguyễn Trí khi bàn về “Một số vấn đề dạy hội thoại cho học sinh tiểu học” cho rằng hội thoại là cuộc giao tiếp bằng lời (ở dạng nói hay dạng viết) tối thiểu giữa hai nhân vật về một vấn đề nhằm đạt được đích đã đặt ra. Còn theo Nguyễn Thiện Giáp: “Hội thoại là phương tiện phổ biến và cơ bản nhất để dẫn dắt công việc của con người. Giao tiếp hội thoại là hoạt động cơ bản của ngôn ngữ. Trong giao tiếp hội thoại luôn có sự hồi đáp giữa người nói và người nghe, chẳng những người nói và người nghe tác động lẫn nhau mà lời nói của từng người cũng tác động lẫn nhau .” [16; tr219] e 9 Theo Nguyễn Đức Dân: “Các hành vi ngôn ngữ không đứng độc lập, riêng lẻ.
Chúng kế tiếp nhau thành chuỗi. Sự kết thúc của hành vi này là tiền đề cho những hành vi tiếp theo, dù đó là lời của một người hay là lần lượt của hai người. Chuỗi các hành vi đó tạo thành một hội thoại. Qua các định nghĩa trên, có thể nhận thấy, Hội thoại là hình thức giao tiếp phố biến của ngôn ngữ.
Hội thoại không phải là các hành vi ngôn ngữ đứng độc lập mà chúng kế tiếp nhau thành chuỗi. Sự kết thúc của hành vi này là tiền đề cho những hành vi tiếp theo. Tuy nhiên, không phải mọi cuộc hội thoại đều giống nhau. “Các cuộc hội thoại có thể khác nhau ở một số đặc điểm như sau: 1.
Chúng khác nhau về đặc điểm của thoại trường (không gian, thời gian) ở đó diễn ra cuộc hội thoại. Sự khác biệt về số lượng người tham gia. Số lượng nhân vật hội thoại hay còn gọi là đối tác hội thoại hay đối tác - thay đổi từ hai đến một số lượng lớn. Có những cuộc hội thoại tay đôi (song thoại), tay ba (tam thoại), tay tư hoặc nhiều hơn nữa (đa thoại).
Các cuộc thoại còn khác nhau về cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại. Cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại rất khác nhau tùy theo các cuộc hội thoại, chẳng hạn như: tính chủ động hay thụ động của đối tác, vị thế giao tiếp mạnh hay vị thế giao tiếp yếu. Sự khác nhau ở tính có đích hay không có đích. Những cuộc hội thoại như thương thuyết ngoại giao, hội thảo khoa học có đích được xác định trước rõ ràng.
Những cuộc tán gẫu được xem là không có đích. Nói đến đích của hội thoại cũng là nói đến đặc tính nội dung của cuộc hội thoại. Có những cuộc hội thoại ngẫu hứng, tự do và những cuộc hội thoại được định trước về nội dung. Có những cuộc hội thoại có nội dung nghiêm túc và có những cuộc hội thoại nói những chuyện “tào lao”.
e 10 Và cuối cùng, là sự khác nhau về tính có hình thức hay không có hình thức. Những cuộc thương nghị, hội thảo là những cuộc hội thảo mà hình thức tổ chức khá chặt chẽ, trang trọng đến mức thành nghi lễ, còn những chuyện trò đời thường không cần một hình thức tổ chức nào cả. [10; tr203, 204] Như vậy, có thể thấy mặc dù cách định nghĩa có thể khác nhau nhưng về cơ bản nội hàm của chúng vẫn giống nhau. Chúng tôi cho rằng: “Hội thoại là cuộc trò chuyện tối thiểu giữa hai người trong đó họ luân phiên đổi vai, lúc là người nói, lúc là người nghe, lúc người này nói người kia nghe và ngược lại.
Nguyên tắc hội thoại Có các nguyên tắc hội thoại cơ bản sau: Nguyên tắc cộng tác hội thoại, nguyên tắc lịch sự, nguyên tắc luân phiên lượt lời. Đối với nguyên tắc cộng tác hội thoại Theo H. Grice, nguyên tắc cộng tác hội thoại có dạng tổng quát như sau: Hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị (vào cuộc hội thoại) đúng như nó được hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của một cuộc hội thoại mà anh chị đã chấp nhận tham gia vào. Nguyên tắc này bao trùm bốn phạm trù mà Grice gọi là phạm trù lượng, phạm trù chất, phạm trù quan hệ, phạm trù cách thức theo tinh thần các phạm trù của nhà triết học Kant.
Phương châm về lượng: Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi (của đích đang diễn ra của từng phần của cuộc hội thoại). Đừng làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin lớn hơn đòi hỏi. Phương châm về chất: Đừng nói những điều mà anh tin rằng không đúng. Đừng nói điều mà anh không có bằng chứng xác thực.
Phương châm quan hệ: Tôi trông đợi sự giúp đỡ của người giúp tôi đúng vào điều tôi đang cần ở thời điểm cụ thể của việc tôi đương làm. Phương châm cách thức: e 11 + Tránh lối nói tối nghĩa. + Tránh lối nói mập mờ. Những nguyên tắc công tác hội thoại và phương châm Grice đúng cho những cuộc hội thoại chân thực nhưng nó cũng có những hạn chế nhất định là: Chỉ chú ý đến thành phần nội dung thông tin (lượng tin), chưa chú ý đến thành phần nội dung liên cá nhân và có ranh giới không rõ ràng giữa các phương châm.
Nguyên tắc lịch sự Lịch sự quy ước: Có những phương tiện ít nhiều quy ước, bị quy định bởi những nguồn gốc xã hội, bắt buộc đối với người sử dụng, bao gồm: Phép lịch sự vị thế (theo quan hệ dọc, quan hệ quyền thế). Phép lịch sự thân – sơ (theo quan hệ ngang, quan hệ thân cận). Lịch sự chiến lược: Liên quan tới những cái xảy ra trong một cuộc hội thoại, tới sự sử dụng các hành vi ở lời và với những đề tài được đưa vào hội thoại. Các lý thuyết về lịch sự.
Lịch sự âm tính và lịch sự dương tính. Lý thuyết của Lakoff và Leech: Lịch sự là những quy tắc đối với quan hệ liên cá nhân (như nguyên tắc Grire là quy tắc đối với sự trao đổi thông tin). Theo Lakoff, có 3 quy tắc lịch sự cơ bản: Không được áp đặt (quy tắc lịch sự quy thức); Dành cho người đối thoại sự lựa chọn (ít tính quy thức); Khuyến khích tình cảm bạn bè. Theo Leech, có 6 phương châm lịch sự lớn 1.
Phương châm khéo léo Giảm thiểu tổn thất cho người Tăng tối đa lợi ích cho người e 12 2. Phương châm rộng rãi Giảm thiểu lợi ích cho ta Tăng tối đa tổn thất cho ta 3.Phương châm tán thưởng Giảm thiểu sự chê bai đối với người Tăng tối đa khen ngợi người 4. Phương châm khiêm tốn Giảm thiểu khen ngợi ta Tăng tối đa sự chê bai ta 5. Phương châm tán đồng Giảm thiểu sự bất đồng giữa ta và người Tăng tối đa sự đồng ý giữa ta và người 6.
Phương châm thiện cảm Giảm thiểu ác cảm giữa ta và người Tăng tối đa thiện cảm giữa ta và người Lý thuyết của Brown và Levinson bàn về: Thể diện, thể diện dương tính và thể diện âm tính Thể diện: Là mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng mà mỗi thành viên trong xã hội muốn mình có được. Thể diện dương tính: Cái được phản ánh trong ý muốn mình được ưa thích, tán thưởng, tôn trọng, đánh giá cao. Thể diện âm tính: Mong muốn không bị can thiệp, được hành vi tự do theo như cách mình đã lựa chọn; là nhu cầu được được độc lập, tự do trong hành vi, không bị ai áp đặt. Là lãnh địa của “cái tôi” - lãnh địa cơ thể, không gian, thời gian, tài sản vật chất hay tinh thần… Hành vi đe dọa thể diện Lịch sự trong tương tác có thể được xác định là những phương thức được dùng để tỏ ra rằng thể diện của người đối thoại với mình được tôn trọng e 13 Đại bộ phận các hành vi ngôn ngữ đều tiềm ẩn khả năng làm tổn hại đến thể diện âm tính hay dương tính của cả người nói và người nghe Bốn nhóm hành vi đe dọa thể diện Hành vi đe dọa thể diện âm tính của người thực hiện: tặng, hứa, cho… Hành vi đe dọa thể diện dương tính của người thực hiện: thú nhận (thú tội), xin lỗi, tự trách… Hành vi đe dọa thể diện âm tính của người nhận: hỏi (về những điều riêng tư), sai khiến, ngăn cấm, khuyên bảo… Hành vi đe dọa thể diện dương tính của người nhận: phê phán, chê, từ chối, chửi mắng, trách móc, chế giễu… Chiến lược lịch sự Lịch sự âm tính: Phép lịch sự hướng vào thể diện âm tính của người tiếp nhận, gồm Lảng tránh: Không dùng hành vi đe dọa thể diện, có thể gián tiếp hóa hành vi đe dọa thể diện bằng những hành vi khác Bù đắp: Bù đắp lại những tổn thất về thể diện, có thể dùng biện pháp nhằm làm dịu hóa như các biểu thức nói giảm, xin lỗi, thanh minh, vuốt ve v.v… Lịch sự dương tính: Phép lịch sự nhằm vào thể diện dương tính của người nhận.Tôn vinh thể diện người nhận.
Khiêm tốn, tránh nói đến mình, tránh đề cao mình. Nguyên tắc luân phiên lượt lời Nguyên tắc luân phiên lượt lời được hình thành do bản chất tuyến tính nên sự giao tiếp bằng lời đòi hỏi phải giảm thiểu đến mức thấp nhất sự dẫm đạp nên lời của nhau. Vì thế khi hai người hội thoại, người kia phải nói khi người này nhường lời theo cách lời người này kế tiếp lời người kia. Ta có những dấu hiệu nhất định, báo một cách tự động cho người kia biết được rằng họ có thể nói.