CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Giao tiếp và lịch sự trong giao tiếp 1. Khái niệm giao tiếp Giao tiếp là hoạt động giao lưu, tiếp xúc giữa con người với con người. Trong quá trình đó, các bên tham gia tạo ra hoặc chia sẻ thông tin, cảm xúc với nhau nhằm đạt được mục đích giao tiếp.Andelem: “Giao tiếp là quy trình trong đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta” [27, tr.
Như vậy, tác giả cũng chỉ mới đề cập đến sự hiểu biết lẫn nhau thông qua giao tiếp là chưa thật triệt để bởi lẽ giao tiếp phải đi đến sự phù hợp lẫn nhau giữa con người với con người. HonBen cho rằng: “Giao tiếp là sự trao đổi với nhau tư duy hoặc ý tưởng bằng lời” [27, tr. Tác giả chỉ dừng lại ở việc trao đổi tư duy, ý tưởng bằng lời là chưa thật đầy đủ. Trong thực tế để giao tiếp đem lại được hiệu quả cao, chủ thể cần phải biết kết hợp cả ngôn ngữ bằng lời và ngôn ngữ không lời (ngôn ngữ biểu cảm) và như vậy Jhon B.
HonBen đã tuyệt đối hóa ngôn ngữ bằng lời trong qúa trình giao tiếp. Tác giả Nguyễn Văn Đáng cho rằng: “Giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin giữa các chủ thể, thông qua ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết và ngôn ngữ biểu cảm. Qua đó, mỗi chủ thể tham gia giao tiếp đều hướng tới sự đồng thuận mà mình mong muốn” (dẫn theo [1], tr. Đây là một khái niệm tương đối đầy đủ về giao tiếp.
Giao tiếp là một hoạt động thường nhật diễn ra liên tục mọi lúc mọi nơi, là cầu nối giữa người nói với người nghe. Kỹ năng giao tiếp là khả năng sử dụng phương tiện ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ cơ thể để diễn đạt những suy nghĩ, ý kiến, cảm nhận của cá nhân một cách rõ ràng và thuyết phục; đồng thời thúc đẩy được giao tiếp hai chiều. Như vậy giao tiếp là khái niệm được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, do những đặc trưng khác nhau của các ngành khoa học mà người 15 ta hiểu về giao tiếp cũng khác nhau và do đó có nhiều quan niệm khác nhau về giao tiếp. Mặc dù có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về giao tiếp, song nội dung đều hàm chứa những dấu hiệu đặc trưng như: là hoạt động đặc thù của con người, được con người ý thức tạo nên và giao tiếp có mục đích, nội dung và sự trao đổi thông tin.
Từ những quan điểm trên cùng với phạm vi nghiên cứu đề tài, chúng tôi có thể khái quát khái niệm về giao tiếp như sau: giao tiếp là hoạt động xác lập, vận hành các mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định. Bản chất của giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin giữa mọi người: nó truyền tải thông tin, chia sẻ thông tin giữa hai hay nhiều người với nhau. Số lượng người tham giao giao tiếp tùy thuộc và nội dung và nhu cầu của người tiếp nhận thông tin nhằm đảo bảo thông tin đáp ứng cho cả người cho và người nhận. Giao tiếp là sự trao đổi thông tin qua lại giữa các bên tham gia vào quá trình giao tiếp, giao tiếp còn thực hiện sự giao lưu, trao đổi tình cảm, tư tưởng với nhau.
Đó là sự tác động giữa các bên nhằm giúp cho quá trình giao tiếp được trọn vẹn và thành công. Giao tiếp có thể diễn ra ở dạng nói và dạng viết, tuy nhiên, dạng nói là dạng phổ biến và chủ yếu. Giao tiếp được thực hiện bằng nhiều loại phương tiện, trong đó ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất. Nó là một quá trình tích cực trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe.
để đạt được một mục tiêu cụ thể. Thông thường, giao tiếp trải qua ba trạng thái: (1) Trao đổi thông tin, tiếp xúc tâm lý; (2) Hiểu biết lẫn nhau; (3) Tác động và ảnh hưởng lẫn nhau. Giao tiếp có tính chất của một cuộc hội thoại. Chức năng này bao gồm chức năng bên trong và chức năng bên ngoài.
Các đặc điểm bên trong bao gồm tính tương hỗ, liên kết, mục đích. Đặc điểm bên ngoài bao gồm số lượng người tham gia, mối quan hệ giữa những người tham gia. Mục đích của giao tiếp là tạo ra tiếng nói chung giữa hai người đối thoại. Tham thoại là một đơn vị hội thoại, thể hiện đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào cặp thoại.
16 Xét về hoạt động giao tiếp trong xã hội, có thể chia giao tiếp thành hai loại. Loại một là giao tiếp truyền thống, trong loại giao tiếp này những quan hệ giữa con người với con người nảy sinh trong quá trình phát triển của xã hội, tức là quan hệ giữa ông bà, cha mẹ, con cái, làng xóm,… và cuối cùng trở thành nét văn hóa ứng xử riêng trong xã hội. Loại hai là giao tiếp chức năng xuất phát từ sự chuyên môn hóa trong xã hội, ngôn ngữ,… là những quy ước, chuẩn mực và tập quán chung trong xã hội cho phép mọi người không quen biết nhau, rất khác nhau, nhưng khi đóng vai, tất cả các vai đều được sử dụng trong giao tiếp xã hội (chẳng hạn như mối quan hệ giữa ông chủ và nhân viên, người bán và người mua, thẩm phán và bị cáo,. Đây là dạng giao tiếp theo một khuôn mẫu được xác định trước xuất hiện trong quá trình tiếp xúc tùy thuộc vào sự phát triển của các mối quan hệ.
Kiểu giao tiếp này trong cuộc sống thực là vô cùng phong phú, dựa trên những người đã thu được thông tin và để giải quyết các xung đột cá nhân. Khoảng cách tiếp xúc có thể chia thành hai loại: giao tiếp mặt đối mặt là phương thức mặt đối mặt sử dụng ngôn ngữ nói và phương thức không lời (cử chỉ, hành động,…) trong quá trình giao tiếp và giao tiếp gián tiếp là phương thức thông qua một phương tiện hòa giải khác như thư từ, fax, e-mail. Về số lượng người tham gia, có các loại như: giao tiếp song phương (hai người giao tiếp với nhau), giao tiếp nhóm (tập thể), giao tiếp xã hội (quốc gia, quốc tế. Về loại hình giao tiếp, có hai loại: giao tiếp chính thức là một cách giao tiếp bắt buộc về mặt pháp lý theo một quy trình được thể chế hóa và giao tiếp không chính thức không ràng buộc hoặc mang tính cá nhân, nhưng vẫn phải tuân theo các quy tắc nhất định.
hương ước, quy ước. Các thành phần của giao tiếp bao gồm thành phần vật chất, thành phần sinh lý, thành phần tâm lý. Các thành phần này tương tác với nhau, trong các tình huống và trong những hoàn cảnh khác nhau, thành phần này là nguyên nhân, thành phần này là kết quả và ngược lại. 17 Về vai trò, giao tiếp là hoạt động của vạn vật, trong đó có con người để phục vụ cho mục đích sinh tồn.
Tuy nhiên, với sự hỗ trợ nhiều của khoa học công nghệ do những khám phá vĩ đại của nhân loại, nhu cầu sinh tồn dễ được thoả mãn hơn trong khi nhu cầu sống hạnh phúc trở thành một nhu cầu tất yếu. Trong tâm lý học, giao tiếp là một chủ đề quan trọng trong đó tầm quan trọng thực tiễn là rất lớn, bởi vì giao tiếp có vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của con người. Đồng thời, giao tiếp cũng là một biểu hiện của nhân cách. Tâm lý con người nảy sinh và phát triển trong giao tiếp với những người xung quanh.
Các nhân tố giao tiếp Các quy luật chi phối giao tiếp cũng chi phối quá trình sản sinh và vận hành văn học. Nhân tố giao tiếp được giáo sư Đỗ Hữu Châu chia thành hai nhóm chính. Một là nhóm trong giao tiếp bằng lời và nhóm kia là bối cảnh giao tiếp. Ở nhóm trong giao tiếp bằng lời có ngôn bản, ngôn bản vừa là phương tiện, vừa là sản phẩm của giao tiếp.
Nói đến ngôn bản, người ta thường nói đến dạng nói và dạng viết. Các nhân tố giao tiếp được hiểu là các nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp, chi phối cuộc giao tiếp đó và chi phối diễn ngôn về hình thức cũng như về nội dung. Các nhân tố giao tiếp là: ngữ cảnh, ngôn ngữ, diễn ngôn. Trong phần này chúng tôi đề cập sâu đến phần ngữ cảnh.
Ngữ cảnh là nhân tố có mặt trong cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn ngôn, là bối cảnh mà giao tiếp diễn ra, bao gồm các khía cạnh vật chất và xã hội. Các khía cạnh vật chất như vị trí, kích thước của phòng họp, số lượng người có mặt, thời tiết, ánh sáng, tiếng ồn, màu sắc của các đồ vật xung quanh bạn. Đây là những khía cạnh nằm bên ngoài của các đối tượng được giao tiếp và các khía cạnh xã hội như mục đích giao tiếp, các mối quan hệ giao tiếp. Do đó, ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ làm nền tảng cho việc sử dụng từ ngữ và cấu tạo ngôn ngữ, đồng thời là cơ sở cho sự hiểu biết toàn diện về ngôn ngữ.
18 Bối cảnh đóng một vai trò quan trọng trong việc phát ngôn và quá trình cảm nhận ngôn ngữ. Đối với quá trình tạo ra lời nói và câu, ngữ cảnh là môi trường tạo ra từ, câu và chi phối nội dung cũng như hình thức của câu chuyện. Trong quá trình nhận thức lời nói, ngữ cảnh giúp người nghe (đọc) hiểu lời nói một cách chính xác và hiệu quả. Ngữ cảnh vừa là cơ sở để sử dụng và hiểu đơn vị ngôn ngữ.
Ngữ cảnh là tất cả các yếu tố ngôn ngữ xuất hiện trước hoặc sau một đơn vị ngôn ngữ cụ thể. Đối với người nói (người viết) cũng như đối với quá trình sản sinh ngôn ngữ, ngữ cảnh là môi trường sản sinh ra ngôn ngữ, do đó ngữ cảnh luôn ảnh hưởng và chi phối đến nội dung cũng như hình thức của câu. Câu văn phải được hình thành theo ngữ cảnh. Đối với bản thân ngữ cảnh, đây là mối quan hệ giữa môi trường và sản phẩm tạo ra trong môi trường này.
Đối với người nghe (người đọc) và quá trình cảm nhận từ và câu, muốn hiểu được ngôn ngữ và câu, người nghe (người đọc) phải dựa trên ngữ cảnh rộng và ngữ cảnh hẹp. Từ và câu phải liên quan đến bối cảnh sử dụng, liên quan đến từng tình huống và sự kiện cụ thể để phân tích, hiểu và giải thích cặn kẽ từng chi tiết về nội dung và hình thức.