MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1. Trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước, là đối tượng cần được chăm sóc, giáo dục và bảo vệ đặc biệt của không chỉ gia đình, nhà trường mà còn toàn xã hội. Trẻ em, đặc biệt là ở độ tuổi tiểu học là đối tượng đang hình thành và phát triển mọi mặt về tâm lý, sinh lý, trí tuệ, để học sinh tiểu học được phát triển toàn diện và lành mạnh đòi hỏi một môi trường an toàn.
Tuy nhiên, cũng chính vì đây là đối tượng đang trong độ tuổi phát triển nên cũng được xem là nhóm yếu thế trong xã hội. Trên thực tế, ở độ tuổi này, trẻ chưa nhận thức được đâu là những hành vi xâm hại tình dục, đồng thời, thể lực để tự vệ trước các tình huống rủi ro cũng không đủ [4]. Cách tốt nhất để giúp học sinh tiểu học tránh được các tình huống rủi ro liên quan đến xâm hại tình dục là cung cấp những tri thức cơ bản về quyền trẻ em, giới tính và đặc biệt là các kĩ năng phản ứng trước tình huống bị xâm hại [5]. Trong khi đó, giáo dục phòng chống XHTD là một trong những nhiệm vụ và thế mạnh của HĐTN.
Trong “Chương trình giáo dục phổ thông: Hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy định một trong các yêu cầu cần đạt của HĐTN chương trình lớp 4 là giúp học sinh nhận biết được nguy cơ bị xâm hại và thực hiện được những hành động để phòng tránh xâm hại. Ở chương trình lớp 5, chủ đề giáo dục phòng tránh XHTD được lồng ghép vào môn Khoa học. Trong HĐTN, học sinh sẽ được chủ động giải quyết các tình huống dựa trên kinh nghiệm của bản thân cũng như dưới sự hướng dẫn của giáo viên, do đó, đây có thể xem là một hướng tiếp cận hiệu quả và phù hợp với định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo [2]. Nhận diện được vấn đề này, nhà nước đã có những chủ trương liên quan đến bảo vệ trẻ em nhưng trên thực tế, tỷ lệ trẻ bị xâm hại lại đang có dấu hiện gia tăng.
Trong tám mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, có tới sáu mục tiêu hướng đến việc nâng cao chất lượng sống và đảm bảo quyền lợi cho trẻ em. Ở 2 nước ta, từ năm 2010, Nhà nước đã ban hành các thông tư, luật, nghị định nhằm bảo vệ trẻ em và xây dựng môi trường phát triển an toàn cho trẻ ví dụ như luật trẻ em, Nghị định số 56/2017/NĐ-CP, Nghị quyết số 121/2020/QH14 ngày 19/6/2020, Công văn số 1191/LĐTBXH-TE ngày 19/04/2022. Tuy nhiên, mặc dù đã có những biện pháp cứng rắn nhưng thời gian gần đây vẫn có hàng loạt các vụ xâm hại tình dục trẻ em xuất hiện và gây ra nhiều bức xúc trong gia đình, nhà trường. Theo thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, chi từ tháng 06/2019 đến 06/2021, cả nước đã ghi nhận hơn 4000 trẻ bị xâm hại.
Vẫn chưa dừng lại ở đó, chỉ trong 3 tháng đầu năm 2022, Tổng đài Quốc gia về bảo vệ trẻ em đã tiếp nhận hơn 202.000 thông tin về các vụ xâm hại trẻ em, bao gồm cả các trường hợp bị bạo lực, xâm hại tình dục, bắt cóc, mất tích, và bị bỏ rơi, tăng 45% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó có trong đó có 147 trẻ bị xâm hại [30]. Mặc dù thực trạng về xâm hại tình dục (XHTD) trẻ em đang có dấu hiệu gia tăng, nhưng hiệu quả giáo dục và thực hành kĩ năng phòng chống XHTD trẻ em lại còn rất thấp. Theo chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, học sinh được trang bị các kiến thức, kĩ năng về tự bảo vệ bản thân, phòng tránh bị bắt nạt từ lớp 1 và phòng chống xâm hại ở lớp 4 [2].
Việc giáo dục kĩ năng này giúp mỗi học sinh có năng lực đưa ra lựa chọn và quyết định giải pháp khi bị xâm hại, nhưng theo chương trình hiện nay, phải đến lớp 5, HS mới được học về cơ thể người và các cơ quan sinh dục như trứng, tinh trùng, bào thai, … trong khi việc giáo dục phòng chống XHTD lại được đề cập trong chương trình lớp 4. Thực tế cũng cho thấy học sinh sau khi được giáo dục kĩ năng vẫn chưa hình thành được các hành vi tự bảo vệ, phòng chống XHTD cần thiết để ứng phó với các tình huống rủi ro. Nguyên nhân của việc này có thể là do chương trình môn học mới được bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 2020, nhiều thầy cô còn rất lúng túng trong việc tổ chức thực hiện, triển khai, dẫn đến hiệu quả giáo dục chưa cao. Đồng thời, không ít giáo viên tỏ ra e ngại, lúng túng và lảng tránh vấn đề này vì cho rằng đây là vấn đề nhạy cảm.
Do đó, để 3 cải thiện thực trạng này, cần có những nghiên cứu nhằm đề xuất các biện pháp thực hiện giáo dục tự bảo vệ bản thân cho HS, đặc biệt là HS lớp 5 qua HĐTN. Học sinh lớp 5 là những học sinh đang tuổi dậy thì, đang dần hoàn thiện về cơ thể (sinh lý) và đang phát triển về tâm hồn (tâm lý). Ở lứa tuổi này, nhu cầu về phát triển bản thân rất mạnh mẽ nhưng khả năng lại hạn chế. Các em chưa có đủ kiến thức, kĩ năng để tự bảo vệ bản thân một cách an toàn và khỏe mạnh.
Sự hướng dẫn và giúp đỡ của người lớn, của nhà trường, cũng như gia đình và xã hội là vô cùng cần thiết cho sự trưởng thành của trẻ. Tâm hồn các em còn hồn nhiên, trong sáng, dễ tin người nên các em chưa có khả năng lường trước được những điều không hay sẽ xảy đến với mình, dẫn đến đối mặt với tình huống nguy hiểm, khó lường. Do đó, việc giáo dục kĩ năng tự bảo vệ bản thân, phòng tránh xâm hại, đặc biệt là kĩ năng phòng chống xâm hại tình dục là vô cùng cần thiết, giúp các em nhận thức được tầm quan trọng và có ứng xử phù hợp, tránh được nguy hiểm. Khi được trang bị các kĩ năng phòng chống xâm hại tình dục, học sinh sẽ được đảm bảo về nhu cầu an toàn, ổn định về mặt tâm lý, có cơ hội giáo dục kịp thời đầy đủ, đúng hướng, tránh được những điều đáng tiếc xảy ra.
Với các lý do trên, tác giả chọn đề tài “Giáo dục phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh lớp 5 qua hoạt động trải nghiệm” với mục tiêu đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp giáo dục phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh lớp 5 thông qua Hoạt động trải nghiệm, nhằm giúp học sinh ứng phó tích cực với xâm hại tình dục. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 2. Nghiên cứu về giáo dục phòng chống xâm hại trẻ em Xâm hại tình dục ở trẻ em là một vấn nạn trên toàn thế giới, việc trẻ bị xâm hại tình dục có thể để lại những hậu quả nghiêm trọng cả về tâm lý lẫn sinh lý ở trẻ. Rất nhiều các công trình đã được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng, tìm kiếm nguyên nhân cũng như đề xuất các biện pháp quyết tình trạng này.
4 Công trình “Sự xấu hổ tiềm ẩn của nhà thờ: Lạm dụng tình dục trẻ em và nhà thờ” của Ron O’Grady là một cuốn sách tập hợp những câu chuyện về các đứa trẻ nghèo, bị lừa đảo và bán vào các tổ chức mại dâm, trong đó cũng công bố hàng nghìn trẻ em ở châu Á là nạn nhân của lạm dụng tình dục, đặc biệt là các trẻ em nữ [26]. Năm 2009, David Finkelhor đã thực hiện một nghiên cứu nhằm xem xét các sáng kiến nhằm ngăn chặn XHTD ở trẻ em, trong đó, tác giả tập trung vào hai chiến lược chính là quản lý tội phạm tình dục trẻ em và giáo dục tại trường học. Các hướng đi này nhận được sự chấp thuận của công chúng và các nhà hoạch định chính sách đương thường nhưng không có bằng chứng về tính hiệu quả của chúng. Bên cạnh đó, đối tượng tấn công, XHTD trẻ em có thể là người lạ, những kẻ ấu dâm và thậm chí là trẻ chưa thành niên, do đó, các biện pháp này có những lỗ hổng.
Do đó, Finkelhor đã đề nghị sử dụng các nguồn lực hành pháp để bắt những kẻ phạm tội mà chưa bị phát hiện và khoanh vùng những đối tượng có nguy cơ cao nhất. Đồng thời, các chương trình giáo dục ở trường nên hướng dẫn trẻ các kĩ năng đối phó như xác định tình huống nguy hiểm, từ chối cách tiếp cận của kẻ xâm hại, huy động sự giúp đỡ, … [18]. Trong cuốn “Giáo trình về lạm dụng tình dục trẻ em: Nhận định, đánh giá và điều trị”, Kathleen đã nhận định, những người bị lạm dụng tình dục khi còn là trẻ nhỏ thường có những bất ổn cả về thể chất lẫn tinh thần, thậm chí nhiều người trong số họ còn mắc một số bệnh hiểm nghèo và nguy hiểm đến tính mạng. Theo thống kê, việc bị lạm dụng tình dục khi còn nhỏ có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch của phụ nữ lên gấp 9 lần.
Ngoài ra, những người từng bị lạm dụng tình dục còn có những Trải nghiệm tuổi thơ bất lợi (Adverse Childhood Experiences- ACE), từ đó dễ gây ra các lệch lạc về phát triển tâm thần sau này. Các trải nghiệm này có thể dẫn đến các rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD), rối loạn giấc ngủ cũng như hình thành các thói quen xấu về sau. Cụ thể, có khoảng 53% người bị lạm dụng tình dục báo cáo rằng họ không thể ngủ được vào ban đêm. Bà cho rằng hiện tượng này là do sự 5 khủng hoảng và tăng mức độ đề phòng quá mức sau khi bị lạm dụng tình dục, gây ra những bất ổn về tâm lý, khó đi vào giấc ngủ hơn.
Chất lượng giấc ngủ kém ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe, nó làm giảm khả năng miễn dịch, trao đổi chất và nội tiết thần kinh, và làm tăng nguy cơ tử vong. Việc bị xâm hại tình dục cũng làm tăng nguy cơ hình thành các thói quen xấu như hút thuốc, rối loạn ăn uống, lạm dụng chất kích thích và thực hành tình dục không an toàn [22]. Trong một nghiên cứu có tính tổng hợp năm 2004, Johnson đã tổng kết 21 hậu quả về cả tâm lý lẫn sinh lý ở trẻ sau khi bị xâm hại. Đầu tiên là về tâm lý, việc xâm hại trẻ em có thể gây ra những tác động tiêu cực trong phát triển tâm lý của trẻ cả về ngắn hạn lẫn dài hạn.