Chương I: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh học yếu ở trường THCS. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh học yếu ở các trường THCS huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh học yếu ở các trường THCS huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam. ~ Phần 3: Kết luận và Khuyến nghị CHUONG 1 CO SO LY LUAN CUA QUAN LY HOAT DONG BOI DUONG HỌC SINH HỌC YÊU Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. TONG QUAN NGHIEN CU'U VAN DE 1.
Trên thế giới Việc dạy học đã được hình thành và phát triển trong một quá trình lịch sử lâu dài. Từ xa xưa nó đã được nhiều nhà triết học, nhà giáo dục học ở cả phương Đông và phương Tây đề cập đến. Ở phương Tây, có Xôcrat (469 — 339 TCN). Ông cho rằng để nâng cao hiệu quả dạy học cần có phương pháp giúp thế hệ trẻ từng bước tự khẳng định, tự phát hiện tri thức mới mẻ, phủ hợp với chân lý.
Ø phương Đông, có Khổng Tử (551 ~ 479 TCN) - một triết gia, nhà giáo dục lừng danh của Trung Quốc từng cho rằng: “Đắt nước phén vinh, yên bình thì người lãnh đạo đất nước cần chú trọng tới 3 yếu tố là: Thứ (làm cho dân đông lên), Phú (làm cho dân giàu), Giáo (làm cho dân được giáo dục). Ông đã khẳng định rằng giáo dục là cần thiết cho mọi người “hữu giáo vô loại” (việc giáo dục không phân biệt đẳng cấp). Các nhà nghiên cứu giáo dục Xô Viết trước đây thì khẳng định: Kết quả toàn bộ hoạt động QL của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên. Saxerđôtôp di sâu nghiên cứu lãnh đạo công, tác giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong hoạt động QL của HT.Xtrezicondin, Jaxapob đã nghiên cứu và đề ra một số vấn đề QL của HT trường phô thông như phân công nhiệm vụ của HT và phó HT, còn V.Xukhomlinxki đặc biệt coi trọng sự trao đổi giữa HT và phó HT để tìm ra cách QL tốt nhất.
Tác giả cho rằng: “Trong những cuộc trao đổi này như đòn bẩy, đã nảy sinh ra những dự định mà sau này trong công tác QL được phát triển trong ao động sáng tạo của tập thể sư phạm”.Xukhomlinxki còn chỉ rõ tầm quan trọng của việc tổ chức dự giờ và phân tích sư phạm bài dạy. Ông đã chỉ ra thực trạng yếu kém của việc phân tích sư phạm bài dạy cho dù hoạt động dự giờ và góp ý với GV sau giờ dự của nhà QL diễn ra thường xuyên. Từ đó ông đã đưa ra nhiều cách phân tích sư phạm bài dạy choGV Rõ ràng trên thực tế và trong lý luận, nhiều tác giả của nhiều nước trên thế giới từ cổ đến kim đã rất quan tâm đến việc nghiên cứu HĐDH, QL HĐDH để tìm ra những biện pháp QL hữu hiệt Khi xã hội phát triển thì giáo dục ngày càng được quan tâm về mọi mặt. Vấn để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và nâng cao chất lượng dạy học nói riêng trong các nhà trường từ lâu đã trở thành vấn đề được quan tâm của các nước trên thế giới.
Các nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu trên thế giới đều thấy rõ vai trò, động lực của giáo dục trong phát triển kinh tế - xã hội. Thậm chí nền kinh tế tri thức đang trở thành một thành phần quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Trước yêu cầu của xã hội và nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo, nhiều công trình của. các nhà nghiên cứu ở nước ngoài đã được công bố và dịch ra tiếng Việt như: M.
Kônđacốp, Cơ sở lý luận khoa học OL giáo dục, trường CBQL giáo dục và viện khoa học giáo dục 1984; Harld ~ Kôntz, Những vấn để cốt yếu về OL, nhà xuất bản khoa học kỹ thuật 1992; Tác phẩm “Kinh nghiệm lằnh đạo của HT” của Xukhômlinxki (dịch và xuất bản năm 1981) đã đưa ra nhiều tình huống QL giáo dục và QL dạy học trong nhà trường, trong đó tác giả đã bàn nhiều về phương pháp thực hiện mục tiêu, nội dung và PPDH, đặc biệt là vấn đề phân công trong QL dạy học. Ở Việt Nam Nước Việt Nam với lịch sử nghìn năm văn hiến cũng không ngoại lệ. Từ xa xưa việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài đã là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Cách đây 532 năm (1484 - 2016) trên tắm bia tiến sĩ đầu tiên dựng tại Văn Miếu Quốc Tử Giám ghi lại lịch sử khoa thi năm 1442 có khắc những dòng chữ “Hiển rải là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì vậy, các đắng thánh đế minh vương không triều đại nào không coi việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm công việc cần thiết.
“Hiển rài là nguyên khí của quốc gia - Thân Nhân Trung”, cầu nói của vị Tiến sĩ triều Lê đã nêu rõ được tầm quan trong của nhân tải trong sự phát triển phỏn vinh của dân tộc. Và chúng ta có thể lật lại từng trang lịch sử để thấy rằng đề tuyển chọn người hiền tài ông cha ta đã tô chức nhiều cuộc thỉ nhu thi Huong, th Hội, thì Đình. Việc tuyển chọn, bồi dưỡng nhân tài thể hiện rõ từ thời nhà Lý qua việc xây dựng trường Quốc Tử Giám, được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam và là cái nôi bồi dưỡng nhân tài của nước ta trong thời kì đó Sau cách mạng tháng Tám thành công, ngày 20/11/1946 trong bài viết “Tim ¡ đức ” Chủ tịch Hô Chí Minh đã khăng định: “Nước nhà cân phải kiến thiế, kiến thiết phải có người tài, trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu gi người có tài, có đức. Kế thừa truyền thông hiểu học của dân tộc, dù trong bắt cứ hoàn cảnh khó khăn nào, kể cả khi đất nước khó khăn sau hai cuộc chiến tranh.
chống ngoại xâm bảo vệ đất nước thì nhân dân ta, Đảng và Nhà nước vẫn luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Đặc biệt là những năm gần đây, cùng với sự phát triển của xã hội, sự phát triển của kinh tế, khoa học kĩ thuật và theo xu thế toàn cầu hóa thì vấn đề nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài càng. được coi như một nhiệm vụ chiến lược. Do nhận thức rõ được tầm quan trọng của nhân tài đối với sự nghiệp cách mạng ngay từ những năm đầu xây dựng lại đất nước.
sau chiến tranh, Đảng và Bác Hồ luôn dành sự quan tâm rất lớn đến công tác giáo. Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện, đánh dấu bước ngoặc có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình đi lên của đất nước trong đó có công tác bồi dưỡng những người có năng lực, có tài để cống hiến cho đất nước. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Đảng và nhà nước ta tiếp tục xác định “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguôn nhân lực; đầy mạnh phát triển, ứng dụng khoa học - công nghệ: phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục - đào tạo. Trong chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 được Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 13/6/2012, tại phần 3 mục III, quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục trong đó nhấn mạnh phải thỏa mãn nhu cầu của mỗi người học, đến công tác đào tạo, bồi dưỡng.
Một bài báo viết có tựa đề “Can nghiên cứu phương pháp bôi đường học sinh yếu kém” của phóng viên Báo Tiền Phong phát vào thứ bảy 25/8/2007 có trích lời phát biểu của nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân nói như sau: “4w nay chúng ta chỉ thưởng cho học sinh giỏi, xuất sắc mà quên đi các em yếu kém có tiền bộ”. Khi ông Nguyễn Thiện Nhân dang là phó thủ tướng, tại buôi làm việc với lãnh đạo tinh Nghệ An có phát bieu “Nghé An là địa phương có nhiều sáng kiến để dẫn đến Trung ương có những chủ trương, chính sách phù hợp trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, như giải quyết tình trạng giáo viên không đáp ứng được yêu cầu, phong trào nói không với tiêu cực trong thi cử." ",Lần này, sáng kiến của Nghệ An là “bàn giao chất lượng ”, học sinh lớp dưới không đạt chuẩn kiên quyết không nhận lên lớp trên. Khen thưởng kịp thời những học sinh có thành tích xuất sắc trong học tập, động viên học sinh yếu kém có tiến bộ mới khuyến khích được phong trào dạy và học trong nhà trường”. Theo ông Nguyễn Thiện Nhân phải nghiên cứu phương pháp bồi dưỡng cho học sinh yếu kém.
Nên chăng, các tỉnh tự nghiên cứu, biên soạn tải liệu rồi Bộ GD&ĐT tập hợp thành tài liệu chung nhất, phổ biến cho cả nước. Ngoài những tài liệu dưới dạng sách, báo như đã nêu còn có thể kể đến rất nhiều luận văn thạc sĩ của các học viên ở những khoá học trước ở các trường đại học trên phạm vi cả nước như: Nguyễn Quốc Phong: Quản lý hoạt động bồi dường học sinh yếu kém ở trường THCS thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, luận văn Thạc sĩ QLGD 2014; Thân Trọng Thuận: Quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh. yếu kém ở trường THPT Cao Binh tinh Cao Bằng, luận văn Thạc sĩ QLGD 2014; Trần Văn Thế: Biện pháp quản lý hoạt động phụ đạo học sinh học lực yếu kém ở các trường trung học phổ thông huyện Krông Pa tỉnh Gia Lai, luận văn Thạc sĩ QLGD 2015; 8ù/ 7iụy Ngọc Hân: “Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng học. viên yếu kém ở trung tâm giáo dục thường xuyên và kỹ thuật hướng nghiệp tỉnh Đồng Tháp”, luận văn Thạc sĩ QLGD 2016;.
Các tác giả này đều chủ yếu tập trung nghiên cứu các đề tài về biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh học yếu nhưng lại có sự khác nhau về cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu, về phạm vi nghiên cứu và về địa bàn nghiên cứu. Qua quá trình học tập và nghiên cứu các „ các công trình nghiên cứu của các tác giả i thay chưa thể bao quát hết được các đặc thù riêng của từng khu vực, từng vùng miền. Tom lai, c6 rit nhiều tác giả trên thể giới cũng như ở Việt Nam đã nghiên cứu và đưa ra nhiều biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh học yếu trong nhà trường.