Chương 1: Cơ sở lý luận tổ chức thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai; Chương 2: Thực trạng việc tổ chức thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai ở quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai ở quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. 7 e CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI 1. Nhận thức chung về khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai 1. Khái niệm, đặc điểm khiếu nại về đất đai Hiện nay, trong hệ thống các văn bản pháp luật chưa có một quy định chung mang tính thống nhất về thuật ngữ khiếu nại đất đai.
Tuy nhiên căn cứ Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Đất đai năm 2013 thì khái niệm khiếu nại đất được hiểu là: quyền của cá nhân, tổ chức đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước trong quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Từ khái niệm trên có thể xác định các đặc điểm khiếu nại về đất đai như sau: Thứ nhất, chủ thể khiếu nại về đất đai là người sử dụng đất. Theo quy định tại Điều 5 Luật Đất đai năm 2013: "Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất", bao gồm: - Tổ chức trong nước gồm các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (tổ chức sử dụng đất); - Hộ gia đình, cá nhân trong nước (hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất); - Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ; 8 e - Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo; - Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ; - Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch; - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư. Tất cả những người sử dụng đất nêu trên đều có quyền khiếu nại về đất đai đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính; cụ thể trình tự thủ tục này được quy định trong Luật Khiếu nại năm 2011 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Thứ hai, đối tượng khiếu nại về đất đai là các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ về quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực đất đai. Theo quy định tại Điều 44, 45, 59, 66, khoản 3 Điều 72, Điều 105, 201, 203 Luật Đất đai 2013 các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý nhà nước về đất đai có thể bị khiếu nại bao gồm: - Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; 9 e - Quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; - Cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; - Quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất; - Quyết định giải quyết khiếu nại đất đai và quyết định xử phạt vi phạm đất đai, quyết định cưỡng chế đất đai. Hành vi hành chính là đối tượng của khiếu nại về đất đai là hành vi thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ của chủ thể quản lý nhà nước được thực hiện trong quá trình quản lý về đất đai (trong phạm vi nghiên cứu của luận văn là hành vi cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền). Thứ ba, mục đích khiếu nại về đất đai là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại – chủ thể chịu sự tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước.
Về mặt pháp lý, quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật của cơ quan hành chính, cán bộ, công chức là những căn cứ trực tiếp và gắn liền với những quy phạm cụ thể đã được hướng dẫn thi hành nhưng họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng. Vì vậy, người khiếu nại có quyền trực tiếp bày tỏ ý kiến và nguyện vọng của mình trước cơ quan, tổ chức nhà nước và cá nhân có thẩm quyền nhằm buộc họ có thái độ đúng đắn, khách quan khi có hành vi không đúng đối với người chịu sự tác động của quan hệ quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai. Thứ tư, Nọi dung khiếu nại về đất đai của các tổ chức, cá nhan rất đa dạng, phức tạp, nhung chủ yếu tạp trung vào các vấn đề sau: - Khiếu nại về thu hồi đất, bồi thuờng giải phóng mạt bằng, bố trí tái định cu. - Khiếu nại về viẹc cấp, thu hồi giấy chứng nhạn quyền sử dụng đất.
- Khiếu nại quyết định xử vi phạm hành chính về vi phạm chế đọ quản lý, sử dụng đất đai. 10 e - Khiếu nại đòi lại đất cũ. Khiếu nại nói chung, khiếu nại về đất đai nói riêng cũng là quyền dân chủ cơ bản của người sử dụng đất đã được quy định trong Hiến pháp (Điều 30) và pháp luật (Luật Đất đai 2013 điều 204). Ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu, thay mặt nhân dân thực hiện hoạt động quản lý đất đai đảm bảo cho đất đai được sử dụng hợp lý, phục vụ lợi ích của chủ sở hữu cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Chính vì vậy, bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào khi có đủ căn cứ đều có quyền khiếu nại và được đảm bảo bằng nghĩa vụ giải quyết khiếu nại của cơ quan có thẩm quyền. Với những đặc điểm đó, bảo vệ quyền, lợi ích bằng quyền khiếu nại trở thành phương thức hữu hiệu để nhân dân có thể tự mình bảo vệ quyền của mình trước những hành vi xâm hại của Nhà nước. Đồng thời được sử dụng như một công cụ để giám sát hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước nhằm hạn chế sự tùy tiện quan liêu cửa quyền của cơ quan, tổ chức nhà nước, của cán bộ công chức nhà nước và cũng là nhằm khôi phục lại lợi ích hợp pháp của người dân. Khái niệm, đặc điểm giải quyết khiếu nại về đất đai Tại khoản 11, Điều 2, Luật Khiếu nại 2011 quy định: Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại.
Để giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại phải thực hiện rất nhiều công việc, từ thụ lý đơn, nghiên cứu đơn, lập kế hoạch giải quyết cho đến xác minh, thu thập chứng cứ, làm rõ các nội dung khiếu nại, đối thoại, ra quyết định giải quyết khiếu nại, hoàn chỉnh hồ sơ, tài liệu, lưu trữ theo quy định. Tuy nhiên, có thể tóm lược việc giải quyết khiếu nại được chia làm 3 bước chính là: chuẩn bị giải quyết khiếu nại; xác minh, thu thập chứng cứ và ra kết luận về nội dung khiếu nại, hoàn chỉnh hồ sơ. 11 e "Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại" (khoản 6 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011). Như vậy, giải quyết khiếu nại về đất đai là việc cơ quan hành chính nhà nước, người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước tiến hành xem xét, đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai bị khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình để kết luận và ra quyết định giải quyết đối với khiếu nại, trên cơ sở tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.
Giải quyết khiếu nại được hiểu là hoạt động thực thi pháp luật của cơ quan có thẩm quyền nhà nước giải quyết các yêu cầu về quyền khiếu nại của công dân liên quan tới các quyết định hành chính, hành vi hành chính có liên quan tới đất đai. Từ những lý giải nêu trên, giải quyết khiếu nại đất đai có đặc điểm sau: Thứ nhất: không phải tất cả các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý và sử dụng đất đai đều là đối tượng của giải quyết khiếu nại đất đai. Chỉ các quyết định hành chính, hành vi hành chính đặc thù khi có căn cứu cho rằng các quyết định này trái pháp luật liên quan tới hoạt động giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo mới là đối tượng của giải quyết khiếu nại đất đai. Thứ hai: theo quy định của pháp luật đất đai, giải quyết khiếu nại đất đai liên quan đến thẩm quyền của nhiều cấp khác nhau, nhiều cơ quan và nhiều cán bộ, công chức được trao quyền.
Theo đó thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai bao gồm: Chính phủ, bộ ngành liên quan (Bộ Tài nguyên và Môi trường); UBND các cấp thực hiện nhiệm vụ giải quyết tranh chấp đất đai.