CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE XÓA DOI GIAM NGHEO VA XOA DOI GIAM NGHEO BEN VUNG 1. Doi nghèo va xóa đói giảm nghèo. Nghèo doi và các tiêu chi đánh giá nghèo doi 1. Quan niệm về đói nghèo Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi con người chúng ta để tồn tại được thì cần phải giải quyết được những nhu cầu cơ bản nhất.
Những nhu cầu đó của con người có thé được chia ra làm hai dạng, đó là những nhu cầu về vật chất như: ăn, mặc, ở, đi lại và những nhu cau về tinh thần như giáo dục, y tế, giao tiếp hay còn gọi là những giá trị của cuộc sống. Những nhu cầu này cần được đáp ứng ở một mức độ nhất định nào đó, mà người ta gọi là mức sống tối thiểu của cộng đồng, nghĩa là nếu không đạt được đến mức này, con người không thể đảm bảo cuộc sống đề phát triển một cách bình thường được. Do vậy, khi nghiên cứu đói nghèo chúng ta cần phải nghiên cứu tới nhu cầu, hay còn gọi là mức sống tối thiêu của người dân. Nghéo đói là một khái niệm mang tính chất động, nó biến đổi tuỳ thuộc vào không gian, thời gian và xuất phát điểm của mỗi địa phương, mỗi quốc gia.
Tuỳ thuộc vào từng quốc gia, từng thời điểm khác nhau, cũng như quan điểm nghiên cứu khác nhau mà nghèo đói được phát biêu khác nhau. Theo Bách khoa toàn thư mở của WiKipedia thì Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội dé có thé sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiêu nhất định với một số khái niệm cơ bản sau: - Khái niệm nghéo đói của tô chức Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Income, PCI) của quốc gia. - Dé có một cái nhìn tông quan về các van đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới (WB), đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối.
Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh dé sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mat phâm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta. - Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 146 la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tông quát cho nạn nghéo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 đô la cho khu vực Mỹ La tinh và Carribê đến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp.
- Khái niệm nghèo đói của Ngân hang phát triển Châu A (ADB) Ngân hang phát triển Châu A đã phát biéu nghèo đói đưới hai hình thức là nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối. Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đông, tại một thời điểm nao đó. Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiêu nhằm duy trì cuộc sống, nghĩa là không có khả năng đạt đến một tiêu chuẩn tối thiêu của cuộc sống [16, 34]. Trên cơ sở những quan niệm về nghèo đói như trên, tại hội nghị chống đói nghèo Khu vực Châu A — Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc — Thái Lan năm 1993 đã đưa ra một định nghĩa chung về nghèo đói: Nghéo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cau cơ bản của con người mà những nhu câu này đã được xã hội thừa nhận tu) theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán từng địa phương [16, 33].
Khái niệm nghèo có thê thống nhất về mặt định tính song không thê thống nhất về mặt định lượng. Bởi vì mỗi quốc gia khác nhau thì có mức sống của người dân khác nhau hoặc ngay trong một quôc gia mức sông giữa các vùng, miên cũng có sự khác nhau. Hơn nữa mặt định 10 lượng của mức nghèo cũng biến động theo thời gian tương ứng với sự biến động về sự phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia đó. Vì vậy, mỗi quốc gia tự khảo sát và xây dựng một thước đo mức độ nghèo đói riêng thông qua những tiêu chí cụ thê được xác định và gọi đó là chuân nghèo.
Trên cơ sở xem xét đến các khía cạnh: mức sống; thu nhập bình quân trên đầu người trong tháng hoặc trong năm đối với các khu vực điển hình; giá trị vật phẩm, hiện vật tiêu dùng: sự thỏa mãn nhu cầu tối thiểu về ăn uống hoặc ty trong chi cho ăn uống trên cơ cấu tiêu dùng .để xây dựng chuẩn nghèo và lấy đó làm cơ sở xác định tỷ lệ nghèo đói của quốc gia. Ty lệ nghèo: "Tỷ lệ nghèo là số phần trăm số người hoặc số hộ có mức sống thấp hơn chuẩn nghèo trong tông số người hoặc số hộ được nghiên cứu [16, 33]. Trong đó mức sống được đo bằng các thước đo sau: Thước do đơn chiêu: "Thước đo này đo khía cạnh về kinh tế của mức sống" và được tính theo thu nhập hoặc chỉ tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình từ các cuộc điều tra thu nhập, chi tiêu hoặc điều tra mức sống hộ gia đình. Các nước lựa chọn thu nhập làm thước đo đơn chiều mức sống cho rằng: thu nhập phản ánh thực chất mức sống của các hộ gia đình hơn là chỉ tiêu.
Vì thông tin về thu nhập chi sai lệch ở một số hộ khi họ chủ định giấu diém thu nhập hoặc do có nhiều nguồn thu khác nhau mà họ không thé nhớ hết được. Còn ở một số hộ khi gặp phải ốm dau, tai nạn, rủi ro,. sẽ bị tăng đột biến làm cho mức độ chi tiêu cho cuộc sống trở nên eo hep trong khi theo thu nhập thì họ thuộc diện không nghèo hoặc theo thước đo chỉ tiêu thường xảy ra những trường hợp người nghèo kê khai vống chỉ tiêu của họ vì sự mặc cảm, sỹ diện. Các nước chon chi tiêu làm thước đo đơn chiều mức sống lại cho rằng độ chính xác của số liệu chỉ tiêu điều tra thường cao hơn so với số liệu điều tra về thu nhập, mức chỉ tiêu phản ánh thực chất mức sống của các hộ hơn là thu nhập.
Trong khi thu nhập thường có tính ổn định không cao trong một thời kỳ nhất định. Trên thực tế là có thé kiểm soát được chất lượng số liệu thu nhập hon số liệu chỉ tiêu của các hộ nghèo. Nhưng tùy điều kiện nhất định mà mỗi quốc gia sẽ lựa chọn thu nhập hoặc chi tiêu làm thước đo để xác định tỷ lệ đói nghẻo của quốc gia 11 mình. Ví dụ: Tổng cục Thống kê va Bộ Lao động Thương binh và Xã hội sử dụng thước đo thu nhập khi tính ty lệ nghéo cho Việt Nam trong khi WB lại sử dụng thước đo chi tiêu.
Thước do da chiêu: Thước do đa chiều được xem xét mức sống của dân cư đầy đủ hơn, toàn điện hơn. Nó đo lương mức sống cả về kinh tế lẫn chất lượng cuộc sống theo các chiều cạnh khác nhau như: tình trạng phi tiền tệ, tình trạng dễ bị ton thuong, rui ro, quyén tự do, bi gat ra ngoài lề xã hội, bị phân biệt đối xử, bị vi phạm quyền con người, v.Việc đo lường mức sống theo đa chiều là việc xác định các chỉ tiêu dé đo các chiều và việc gộp các chiều thành độ đo hay dé riêng từng chiều và sử dung trọng số các chiều. "Tuy nhiên, do khó khăn về số liệu nên trong thực tế thước đo đa chiều chỉ đo lường sự phát triển con người về 3 chiều: tuổi thọ bình quân, trình độ học van và chất lượng cuộc sống (đo bằng GDP thực tế bình quân theo đầu người tính theo PPP)" [16, 35]. Đã có nhiều thước đo đa chiều được nghiên cứu, xây dựng và áp dụng ở nhiều quốc gia.
Tóm lại, hai thước đo đơn chiều và thước đo đa chiều về nghèo đói đều có những ưu, nhược điểm hay tác động đến giảm nghèo khác nhau. Thước đo đơn chiều giải quyết vấn đề nghèo đói một cách ngắn hạn trong khi thước đo đa chiều giải quyết nghèo ở dai hạn. Quan niệm nghèo đói của Việt Nam là thừa nhận định nghĩa chung về nghèo đói do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á-Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc-Thái Lan tháng 9/1993 đưa ra: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán từng địa phương. Nghèo của Việt Nam được nghiên cứu là nghèo tuyệt đối, thước đo đói nghèo của Việt Nam đã áp dụng là cách tiếp cận đơn chiều và gần đây là một số nghiên cứu áp dụng thước đo nghèo đa chiều ( chăng han là thước đo HDI).
Song chủ yếu chúng ta vẫn đang thiên về cách tiếp cận đơn chiều. Nhưng trong tương lai cần hoàn thiện cách tính HDI để xếp hạng cho các tỉnh đồng thời nghiên cứu, áp dụng các độ đo đa chiều khác khi tính đến mức độ nghẻo. Tiêu chí xác định chuan nghèo đói của quốc tế và Việt Nam a. Phương pháp xác định chuẩn nghèo đói quốc tế Nghéo đói là khái niệm mang ý nghĩa tương đối, bởi vì người nghèo ở quốc gia này có thé sẽ không nghèo hoặc khổ cùng cực hon so với quốc gia khác.
Chi tiêu đánh giá nghèo đói trong một quốc gia xuất phát từ việc xác định dé đưa ra một giới hạn cho sự nghèo đói của quốc gia mình. Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức độ giàu nghèo. Tình trạng nghèo đói ở mỗi quốc gia khác nhau về cả mức độ và số lượng, thay đổi theo thời gian và không gian. Trên thế giới người ta đang đưa ra những chỉ tiêu để đánh giá nước giàu, nước nghèo là thu nhập bình quân trên đầu người, tỷ lệ hộ giàu và hộ nghèo.
Khi đánh giá hộ giàu và hộ nghèo dé thực hiện XĐGN thì giới hạn nghèo đói được hiểu là giới hạn thu nhập bình quân tính theo đầu người.