CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH XĂNG DẦU 1. Những vấn đề lý luận cơ bản và lý luận chung về thuế [13] 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế Có rất nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau dựa trên những góc độ khác nhau về thuế, nhưng có thể tổng quát lại như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật pháp qui định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tượng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp.
Như vậy, thuế mang tính cưỡng chế và được thiết lập theo nguyên tắc luật định. Bằng quyền lực chính trị của mình, nhà nước đã ban hành các loại thuế để tạo lập nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, các khoản thu này được bố trí sử dụng theo dự toán ngân sách nhà nước đã được phê duyệt cho tiêu dùng công cộng và đầu tư phát triển nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Như vậy, thuế phản ảnh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội, thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội. Với nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng nhìn chung thuế có các đặc điểm sau đây: - Thứ nhất, thuế là khoản đóng góp bằng tiền.
Về nguyên tắc, thuế là một khoản đóng góp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngược với các hình thức thanh toán bằng hiện vật đã tồn tại trước đây. - Thứ hai, thuế là khoản đóng góp bắt buộc được thực hiện thông qua con đường quyền lực chính trị. Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc, được thực hiện thông qua con đường quyền lực nhà nước (qua hệ thống pháp luật thuế). 4 Do đó, đối tượng nộp thuế bắt buộc phải tuân thủ các quy định pháp luật về kê khai, nộp thuế.
Đối tượng nộp thuế không thể tự mình ấn định hay thoả thuận mức thuế mà phải chấp thuận mức thuế và thời hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật. Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế. Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện. - Thứ ba, thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước trong việc thực hiện các chức năng quản lý xã hội, chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước.
Khác với khoản vay, thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế (tuy nhiên, một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các khoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng). Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở cả trước và sau khi thu thuế. Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho người nộp thuế. Sau khi thu thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế.
Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ sử dụng ít các dịch vụ công cộng; không có quyền đòi hỏi được hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế họ phải trả vì lý do này hay lý do khác; không thể từ chối nộp thuế với lý do họ đã phải thanh toán cho các khoản chi trái với nguyên tắc này. Thuế được thu nhằm đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của nhà nước, thuế không có đối khoản cụ thể. Điều này thể hiện rõ ở chỗ nguồn thu từ mỗi loại thuế không được quy định gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào cả mà đều được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung của nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Chức năng của thuế Theo dòng lịch sử, thuế có ba chức năng cơ bản, đó là: 1.
Chức năng đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN) Thuế là nguồn thu chủ yếu để bù đắp cho các khoản chi NSNN. Mặc dù các khoản thu này không phải là nguồn bù đắp duy nhất mà còn có nguồn vốn vay hoặc phát hành tiền tệ để bù thâm hụt ngân sách. Tuy nhiên không thể phủ nhận vai trò to lớn của thuế trong việc chủ động cân đối cho NSNN. Chức năng phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội Về nguyên tắc, gánh nặng về thuế phải được phân chia một cách công bằng; thuế phải có vai trò sửa chữa những khiếm khuyết của sự phân phối lần đầu để đảm bảo sự công bằng và bình đẳng.
Việc nộp thuế theo quy định pháp luật cụ thể đảm bảo sự công bằng đối với mọi loại hình kinh tế, mọi tầng lớp dân cư. Đồng thời có sắc thuế lũy tiến để phân phối lại thu nhập xã hội, hạn chế chênh lệch thu nhập trong xã hội. Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng của thị trường Thuế là một công cụ của chính sách kinh tế có thể đóng vai trò khuyến khích, hạn chế hoặc ổn định kinh tế. Thuế có thể được sử dụng để khắc phục những bất cân bằng của thị trường.
Chẳng hạn như, dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vi mô để quốc tế hoá những tác động nội tại của nền kinh tế. Thuế cũng có thể góp phần thực hiện các cân bằng tổng thể trong khuôn khổ chính sách ngân sách dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vĩ mô. Vai trò của thuế, được phát huy tùy thuộc vào “nghệ thuật sử dụng” công cụ thuế của mỗi quốc gia. Về nguyên tắc, thuế phải luôn luôn phù hợp với mục tiêu, đường lối phát triển kinh tế - xã hội và là công cụ đắc lực cho việc thực hiện đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định.
Đó cũng là lý do mà các quốc gia phải thường xuyên rà soát mức độ phù hợp của hệ thống thuế với chiến 6 lược phát triển kinh tế xã hội cuả mình, thực hiện các cải cách thuế kịp thời nếu thấy cần thiết. Hệ thống thuế và bộ máy quản lý thuế hiện hành ở Việt Nam 1. Hệ thống thuế hiện hành ở Việt nam Sau hơn 20 năm thực hiện Chương trình cải cách hệ thống thuế, hệ thống thuế hiện hành nước ta được xây dựng và hoàn thiện dần theo thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, bao gồm các loại thuế, khoản thu sau đây: (1) Thuế giá trị gia tăng (GTGT) (2) Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) (3) Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) (4) Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) (5) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (XNK) (6) Thuế bảo vệ môi trường (7) Thuế sử dụng đất nông nghiệp (8) Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (9) Thuế môn bài (10) Thuế tài nguyên (11) Các loại phí, lệ phí và một số khoản thu khác 1. Tổ chức bộ máy quản lý thuế hiện hành ở Viêt nam [5] Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế hiện hành bao gồm hệ thống thu nội địa (là hệ thống Thuế Nhà nước), và hệ thống thu thuế XNK (là hệ thống Hải Quan Việt Nam).
Theo Nghị định số 281-HĐBT ngày 7/8/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), hệ thống thuế Nhà nước được thành lập để thực hiện công tác thu và quản lý các loại thuế và các khoản thu khác cho NSNN trong nội địa. Bộ máy quản lý thuế được tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương; cơ quan thuế đặt tại địa phương chịu sự 7 lãnh đạo song trùng của ngành Thuế cấp trên và Chủ tịch UBND cùng cấp; Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế là tổ chức trong hệ thống hành chính nhà nước có tư cách pháp nhân công quyền, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước. Sơ đồ hệ thống bộ máy QLT nội địa hiện hành * Cơ cấu tổ chức Tổng cục Thuế được tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương theo đơn vị hành chính, bảo đảm nguyên tắc tập trung thống nhất. - Cơ quan Tổng cục Thuế ở Trung ương: a) Vụ Chính sách; b) Vụ Pháp chế; c) Vụ Dự toán thu thuế; d) Vụ Kê khai và Kế toán thuế; đ) Vụ Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế; 8 e) Vụ Quản lý thuế thu nhập cá nhân; g) Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn; h) Vụ Tuyên truyền – Hỗ trợ người nộp thuế; i) Vụ Hợp tác quốc tế; k) Vụ Kiểm tra nội bộ; l) Vụ Tổ chức cán bộ; m) Vụ Tài vụ - Quản trị; n) Văn phòng (có đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh); o) Thanh tra; p) Cục Công nghệ thông tin; q) Ban Quản lý rủi ro về thuế; r) Trường Nghiệp vụ thuế; v) Tạp chí Thuế.
Các tổ chức quy định từ điểm a đến điểm q khoản 1 Điều này là các tổ chức hành chính giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước; các tổ chức quy định tại điểm r và điểm v là tổ chức sự nghiệp. - Cơ quan Thuế ở địa phương: a) Cục Thuế ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Cục Thuế cấp tỉnh) trực thuộc Tổng cục Thuế; b) Chi cục Thuế ở các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Chi cục Thuế cấp huyện) trực thuộc Cục Thuế cấp tỉnh. Cục Thuế cấp tỉnh, Chi cục Thuế cấp huyện có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật. * Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị thuộc Tổng cục Thuế.Lãnh đạo - Tổng cục Thuế có Tổng cục trưởng và Phó Tổng cục trưởng.
* Tổng cục trưởng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế do Bộ trưởng Bộ Tài chính bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức theo quy định của pháp luật. 9 * Tổng cục trưởng là người đứng đầu Tổng cục Thuế, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Tài chính và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Tổng cục Thuế. Các Phó Tổng cục trưởng chịu trách nhiệm trước Tổng cục trưởng và trước pháp luật về lĩnh vực công tác được phân công phụ trách.