Luận văn giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Trường TCN Đông Sài Gòn

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Trường TCn Đông Sài Gòn.

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

148
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đã làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông thôn. Diện tích đất nông nghiệp tại các quận vùng ven như Quận 9, TP.HCM đang dần thu hẹp do đô thị hóa nhanh. Người dân nông thôn buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp để thích ứng với điều kiện mới. Đào tạo nghề đóng vai trò then chốt trong việc giúp lao động nông thôn có kỹ năng cần thiết. Trường TCN Đông Sài Gòn là cơ sở đào tạo nghề uy tín tại khu vực phía Nam. Chất lượng đào tạo nghề được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2000, chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của tập hợp đặc tính vốn có. Harvey và Green (1993) định nghĩa chất lượng gồm năm khía cạnh: sự xuất sắc, sự hoàn hảo, sự phù hợp mục tiêu, thể hiện giá trị và sự chuyển đổi về chất. Việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ từ mục tiêu, nội dung chương trình đến phương pháp giảng dạy.

1.1. Thực trạng đào tạo nghề tại vùng đô thị hóa nông thôn

Khu vực Quận 9 và các vùng ven TP.HCM đang trải qua quá trình đô thị hóa mạnh mẽ. Diện tích đất nông nghiệp thu hẹp nhanh chóng do các dự án hạ tầng và khu công nghiệp. Lao động nông thôn đối mặt với thách thức chuyển đổi nghề nghiệp lớn. Nhiều người chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng công nghiệp và dịch vụ. Nhu cầu học nghề tăng cao nhưng chất lượng đào tạo chưa đáp ứng kỳ vọng thị trường lao động. Trường TCN Đông Sài Gòn phải liên tục điều chỉnh chương trình để phù hợp với thực tế.

1.2. Khái niệm chất lượng đào tạo nghề theo tiêu chuẩn quốc tế

Chất lượng đào tạo nghề được đánh giá qua nhiều tiêu chí khác nhau. Theo Tổng cục Dạy nghề, chất lượng là mức độ trùng khớp với mục tiêu đào tạo đề ra. Tiêu chuẩn TCVN-ISO 8402 định nghĩa chất lượng là tập hợp thuộc tính giúp thỏa mãn nhu cầu đã nêu hoặc nhu cầu tiềm ẩn. Trong giáo dục nghề, chất lượng bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học sau đào tạo. Chương trình đào tạo phải đảm bảo tính toàn diện, khoa học, hệ thống và phù hợp với trình độ phát triển kỹ thuật công nghệ của lĩnh vực sản xuất.

II. Phân tích thực trạng chất lượng đào tạo nghề tại trường TCN Đông Sài Gòn

Trường TCN Đông Sài Gòn có lịch sử hoạt động lâu đời tại khu vực phía Nam TP.HCM. Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo nghề đã được đầu tư nhưng chưa đồng bộ với nhu cầu phát triển. Đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn nhưng cần nâng cao năng lực sư phạm và cập nhật công nghệ mới. Chương trình đào tạo từng bước được cải tiến theo hướng gắn với thực tế sản xuất. Tuy nhiên, tỷ lệ học viên nông thôn tìm được việc làm đúng ngành nghề sau tốt nghiệp chưa đạt kỳ vọng. Nguyên nhân chính xuất phát từ sự chưa khớp giữa nội dung đào tạo và yêu cầu thực tế doanh nghiệp. Phương pháp giảng dạy còn nặng lý thuyết, thiếu thực hành tại xưởng sản xuất. Công tác tư vấn hướng nghiệp cho lao động nông thôn chưa được chú trọng đúng mức. Kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả. Đánh giá chất lượng đầu ra chưa có bộ tiêu chí cụ thể gắn liền với chuẩn kỹ năng nghề quốc gia.

2.1. Hạn chế về cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo

Cơ sở vật chất tại Trường TCN Đông Sài Gòn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Xưởng thực hành chưa được trang bị đầy đủ máy móc, thiết bị hiện đại theo kịp công nghệ sản xuất. Thư viện và phòng học lý thuyết thiếu tài liệu tham khảo cập nhật. Hệ thống phòng máy tính phục vụ đào tạo công nghệ thông tin chưa đáp ứng nhu cầu số hóa. Khuôn viên trường nằm trong vùng đô thị hóa nên diện tích mở rộng bị giới hạn. Ngân sách đầu tư từ nhà nước và xã hội hóa chưa đủ để nâng cấp toàn diện.

2.2. Khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thị trường lao động

Thị trường lao động tại TP.HCM và các tỉnh phía Nam đang thay đổi nhanh chóng. Doanh nghiệp yêu cầu lao động có kỹ năng thực hành cao, khả năng thích ứng với công nghệ mới. Chương trình đào tạo nghề tại trường chưa bắt kịp xu hướng chuyển đổi số trong sản xuất. Học viên tốt nghiệp thiếu kỹ năng mềm như làm việc nhóm, giao tiếp và giải quyết vấn đề. Tỷ lệ việc làm sau đào tạo phản ánh rõ khoảng cách giữa đào tạo và thực tế. Cần xây dựng cơ chế phản hồi từ doanh nghiệp để điều chỉnh chương trình kịp thời.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Nâng cao chất lượng đào tạo nghề đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ và có lộ trình thực hiện rõ ràng. Giải pháp đầu tiên là đổi mới mục tiêu đào tạo theo hướng năng lực, gắn liền với chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Chương trình đào tạo cần được xây dựng dựa trên phân tích nhu cầu thực tế của thị trường lao động địa phương. Phương pháp giảng dạy phải chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực thực hành cho học viên. Đội ngũ giảng viên cần được đào tạo nâng cao, tham gia bồi dưỡng tại doanh nghiệp và cơ sở sản xuất. Nhà trường cần tăng cường hợp tác với doanh nghiệp trong đào tạo, thực tập và giải quyết việc làm. Áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý đào tạo và giảng dạy là xu hướng tất yếu. Công tác tư vấn hướng nghiệp phải được triển khai ngay từ đầu để học viên nông thôn hiểu rõ cơ hội nghề nghiệp. Đánh giá chất lượng đào tạo cần có bộ tiêu chí minh bạch, đo lường được kết quả đầu ra. Nguồn lực tài chính cần được huy động đa dạng từ ngân sách nhà nước, xã hội hóa và phí dịch vụ đào tạo.

3.1. Đổi mới chương trình đào tạo theo hướng gắn với thực tiễn sản xuất

Chương trình đào tạo phải tuân thủ nguyên tắc định hướng năng lực và tính thực tiễn. Nội dung cần cập nhật thường xuyên theo sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ mới. Mô hình đào tạo kết hợp giữa lý thuyết tại trường và thực hành tại doanh nghiệp cần được triển khai rộng rãi. Bài giảng phải phát huy tất cả giác quan của học viên trong quá trình truyền thụ kiến thức. Chương trình liên thông dọc và ngang giữa các bậc đào tạo giúp học viên nông thôn có lộ trình phát triển nghề nghiệp dài hạn.

3.2. Nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên và hợp tác doanh nghiệp

Đội ngũ giảng viên là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo nghề tại trường. Giảng viên cần được cử đi bồi dưỡng tại các cơ sở sản xuất để cập nhật thực tế công nghệ. Nhà trường xây dựng chương trình đào tạo thỉnh giảng từ chuyên gia doanh nghiệp. Cơ chế đánh giá giảng viên phải gắn liền với chất lượng đầu ra của học viên. Hợp tác với doanh nghiệp tạo điều kiện cho học viên thực tập và tiếp cận việc làm ngay sau tốt nghiệp. Mô hình đào tạo đặt hàng theo nhu cầu doanh nghiệp cần được khuyến khích.

IV. Kết luận và ứng dụng giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề

Nghiên cứu đã phân tích toàn diện thực trạng chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Trường TCN Đông Sài Gòn. Các giải pháp đề ra tập trung vào ba trụ cột chính: đổi mới chương trình, nâng cao năng lực giảng viên và tăng cường hợp tác doanh nghiệp. Chương trình đào tạo phải lấy người học làm trung tâm, phát triển toàn diện kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp. Phương pháp giảng dạy cần ứng dụng công nghệ thông tin và mô hình học tập trải nghiệm thực tế. Kết nối nhà trường với doanh nghiệp là chìa khóa để thu hẹp khoảng cách đào tạo và thị trường lao động. Công tác tư vấn hướng nghiệp giúp lao động nông thôn định hướng rõ ràng trước khi tham gia đào tạo. Đánh giá chất lượng phải dựa trên tiêu chí đo lường được, gắn liền với tỷ lệ việc làm sau tốt nghiệp. Các giải pháp này cần được triển khai có lộ trình, có sự hỗ trợ từ chính sách đào tạo nghề của nhà nước. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng tại các trường đào tạo nghề khác trong điều kiện tương tự. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề góp phần giải quyết vấn đề chuyển đổi nghề nghiệp cho lao động nông thôn trong thời kỳ đô thị hóa.

4.1. Ứng dụng mô hình đào tạo gắn liền với doanh nghiệp

Mô hình đào tạo gắn liền với doanh nghiệp đã chứng minh hiệu quả tại nhiều quốc gia phát triển. Học viên được thực hành trực tiếp trên dây chuyền sản xuất hiện đại tại doanh nghiệp. Doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình, đánh giá và tuyển dụng học viên sau tốt nghiệp. Nhà trường giảm được chi phí đầu tư thiết bị thực hành đắt tiền. Tỷ lệ việc làm sau đào tạo tăng đáng kể nhờ kỹ năng thực tế học viên tích lũy được. Mô hình này đặc biệt phù hợp với lao động nông thôn cần thu nhập ổn định nhanh chóng.

4.2. Giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo

Công nghệ thông tin hỗ trợ đắc lực trong quản lý và nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Hệ thống quản lý học tập trực tuyến giúp học viên nông thôn tiếp cận tài liệu mọi lúc mọi nơi. Phần mềm quản lý đào tạo theo dõi tiến độ học tập và đánh giá kết quả minh bạch. Công nghệ mô phỏng và thực tế ảo tạo điều kiện thực hành an toàn tại xưởng ảo. Dữ liệu lớn phân tích xu hướng thị trường lao động giúp điều chỉnh chương trình đào tạo kịp thời. Số hóa quy trình quản lý giảm tải hành chính, tập trung nguồn lực cho hoạt động đào tạo chuyên môn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao dộng nông thôn tại trường tcn đông sài gòn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 : Cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT. Chương 2 : Thực trạng công tác đào tạo nghề cho LĐNT tại trường TCN Đông Sài Gòn. Chương 3 : Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT tại trường TCN Đông Sài Gòn. Phần kết luận 4 10.

Kế hoạch nghiên cứu Năm Năm 2015 Stt Nội dung nghiên cứu 2016 8 9 10 11 12 01-02 1. Hoàn chỉnh đề cương nghiên cứu x 2. Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài x x 3. Xây dựng mẫu phiếu điều tra x x 4.

Phân tích, xử lý số liệu x x 6. Trình giáo viên hướng dẫn x 8. Hoàn tất luận văn x 5 PHẦN 2.NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1.1 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Dạy nghề cho lao động nông thôn là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, các chính sách hỗ trợ học nghề cho lao động nông thôn được Thủ tướng Chính phủ ban hành từ năm 2005 theo quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 và Thông tư liên tịch số 06/2006/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 19/1/2006 liên Bộ Tài chính và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn. Theo đó lao động nông thôn trong độ tuổi lao động chưa qua học nghề có nhu cầu học nghề đều được xét tuyển vào các khóa học nghề ngắn hạn do các cơ sở dạy nghề tổ chức giảng dạy theo thứ tự ưu tiên như sau: 1.

Lao động thuộc các hộ bị thu hồi đất canh tác do đô thị hóa hoặc do xây dựng các công trình công cộng, khu công nghiệp, khu chế xuất và các dự án khác về an ninh quốc phòng vì lợi ích quốc gia có nhu cầu học nghề để chuyển đổi nghề nghiệp; 2. Lao động thuộc đối tượng hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật; 3. Lao động thuộc các dân tộc thiểu số; các xã đặc biệt khó khăn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 4. Lao động nữ chưa có việc làm; 5.

Lao động thuộc các làng nghề nằm trong dự án khôi phục, phát triển làng nghề truyền thống mà dự án không có khoản chi phí riêng cho dạy nghề; 6. Lao động thuộc vùng chuyên canh có nhu cầu chuyển đổi nghề; 6 7. Lao động nông thôn khác có nhu cầu học nghề. Mức hỗ trợ dạy nghề tính theo số lượng học viên thực tế tốt nghiệp khóa học, nhưng tối đa không quá 300.000đ/người/tháng và không quá 1,5 triệu đồng/người/khóa học nghề.

Mức hỗ trợ cụ thể cho từng khóa sẽ do từng địa phương quy định. Năm 2009, để nâng cao chất lượng lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Trong đó các chính sách đối với lao động nông thôn đã có sự thay đổi theo hướng với mức hỗ trợ học nghề cao hơn so với trước, các chính sách đã khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đã chuyển từ đào tạo theo năng lực sẵn có của cơ sở đào tạo sang đào tạo theo nhu cầu học nghề của lao động nông thôn và yêu cầu của thị trường lao động, gắn đào tạo nghề với chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của từng vùng, địa phương. Đổi mới và phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi để lao động nông thôn tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của mình.

Dạy nghề cho lao động nông thôn đã có sự chuyển biến sâu sắc về mặt chất lượng, hiệu quả đào tạo. Qua 5 năm thực hiện đề án, lao động nông thôn tại các tỉnh thành trong cả nước cơ bản đã được đào tạo nghề qua các hình thức khác nhau, từ các lớp dạy nghề ngắn hạn cho đến các khóa dạy nghề thường xuyên, các lớp tập huấn nghiệp vụ nuôi, trồng … được tổ chức tại các trường dạy nghề, tại trạm khuyến nông, tại các hộ dân và thậm chí học cả trên đồng ruộng. Tuy nhiên việc ứng dụng những nghề mà lao động nông thôn đã qua đào tạo để tạo việc làm thì thật sự chưa mang lại hiệu quả cao, tỷ lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo có việc làm và tự tạo việc làm là rất thấp, nhất là đối với lao động nông 7 thôn ở các quận, huyện vùng ven thành phố đang chuyển đổi nghề sang lĩnh vực phi nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Vì thế nhất thiết phải có các giải pháp đồng bộ để giải quyết triệt để vấn đề nêu trên, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, đảm bảo được vấn đề an sinh của xã hội và thực hiện có hiệu quả đề án “ Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” của Thủ tướng chính phủ.1 Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Các công trình nghiên cứu ở một số nước trên thế giới cho thấy đào tạo nghề cho LĐNT được Chính phủ các nước coi là một trong những vấn đề có tầm quan trọng ưu tiên hàng đầu.

Mỗi nước đều có chính sách riêng về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nông thôn nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên các chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nông thôn ở các nước thường có các điểm sau [23]: - Tăng cƣờng giáo dục, phát triển nguồn nhân lực nông thôn thông qua phổ cập giáo dục: Đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa với đặc trưng là sự chuyển dịch nhanh chóng cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, do đó tình trạng thiếu nhân lực đã qua đào tạo, đặc biệt là nhân lực lành nghề và thiếu cán bộ quản lý xảy ra phổ biến (có thể kể đến các nước như Nhật Bản, Đài Loan, Thái lan…). Trong khi đó, ở khu vực nông thôn, dân số và người lao động có trình độ văn hóa thấp, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo cao. Vì vậy, trong giai đoạn đầu của quá trình đô thị hóa, các quốc gia này đã có chính sách tăng cường giáo dục, phát triển nguồn nhân lực nông thôn, đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó tập trung ưu tiêu lựa chọn phát triển phổ cập giáo dục tiểu học, chính nhờ những chính sách kịp thời này, tình trạng mù chữ ở nông thôn được xóa bỏ nhanh chóng.

Ngay từ những năm 1965, tỉ lệ đến trường tiểu học ở Đài Loan và Hàn quốc đã đạt gần 100%, Malaysia và Thái Lan đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và tiến tới thực hiện phổ cập trung học. 8 - Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho LĐNT: Chính phủ các nước Singapore, Malaysia. đã thực hiện thành công chính sách phát triển giáo dục và triển khai có hiệu quả chương trình đào tạo nghề cho LĐNT, đặc biệt là đối với lao động trẻ có trình độ văn hóa trung học. Đối với học sinh tại các vùng nông thôn nghèo khó còn được theo học các lớp đào tạo trong nhiều lĩnh vực do Chính phủ hỗ trợ một phần về tài chính.

Chính phủ các nước có nền kinh tế tăng trưởng cao rất chú trọng đến việc nâng dần mức chi tiêu cho giáo dục. Học sinh tại các vùng nông thôn tốt nghiệp Cao đẳng, Đại học hay Trường nghề đều tìm được việc làm trên thị trường lao động hoặc tự mở cơ sở sản xuất, kinh doanh. - Tăng cƣờng đào tạo nhân lực chuyên môn kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghiệp: Đối với LĐNT bị mất đất nông nghiệp, phải chuyển đổi nghề nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp, Chính phủ các nước đã tăng cường đào tạo nghề cho số lao động này. Trong những năm 1960-1970, các nước công nghiệp mới phát triển (NICs) đã có chính sách thu hút rất nhiều lao động nông thôn vào các ngành công nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các nước như Nhật Bản, NICs và ASEAN đã rất chú trọng phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như dệt, may mặc, sản xuất da giày.

- Chính sách thúc đẩy sản xuất hàng hóa nông nghiệp và nâng cao năng suất lao động của sản xuất nông nghiệp: Hầu hết Chính phủ các nước NICs châu Á không những chú trọng đào tạo nhân lực cho khu vực phi nông nghiệp mà còn có cả các chính sách tích cực khác nhằm thúc đẩy, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp. Với các chính sách này, lao động ở các vùng nông thôn sẽ gắn bó hơn với ngành nông nghiệp, tự bản thân sẽ có nhu cầu nâng cao năng lực và trình độ của bản thân để góp phần đẩy mạnh năng suất lao động. 9 Vì vậy, với kinh nghiệm chung ở các nước cho thấy phát triển đào tạo nghề cho LĐNT được thực hiện song song theo hai hướng là đào tạo để chuyển dịch cơ cấu lao động, cung ứng nguồn nhân lực cho sản xuất phi nông nghiệp gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đây được xem là huớng chủ yếu và đào tạo nghề để nâng cao năng suất lao động phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.2 Các nghiên cứu trong nƣớc Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực đào tạo nghề cho LĐNT, các đề tài đã đưa ra được các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT, tuy nhiên chỉ dừng lại đối với các nghề thuần nông như đề tài của tác giả Đỗ Thị Hồi “ Nghiên cứu đề xuất mô hình đào tạo nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang”, tác giả Diệp Văn Sê “Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy nghề cho người dân vùng biển Bạc Liêu, tác giả “ Nâng cao chất lượng đào tạo nghề ngắn hạn cho LĐNT tỉnh Bình Dương”. Đề tài của tác giả Diệp Văn Sê chỉ nêu được giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề cho người dân vùng biển, chưa đi sâu vào các giải pháp đối với những người dân có nhu cầu chuyển đổi nghề.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ