Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ BÁO NHU CẦU NĂNG LƯỢNG ĐIỆN NĂNG 1. Cơ sở lý luận về cầu 1. Khái niệm cầu Cầu là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà tiêu dùng mong muốn và có khả năng mua tại các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định với giả định các nhân tố khác không đổi (ceteris paribus). Cầu cá nhân và cầu thị trường Cầu (cá nhân) là số lượng (quantity) hàng hóa hay dịch vụ mà một người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá (price) khác nhau trong một thời gian nhất định với điều kiện các nhân tố khác không thay đổi (Ceteris Paribus).
Khi nói đến cầu chúng ta phải hiểu hai yếu tố cơ bản là khả năng mua và ý muốn sẵn sàng mua hàng hóa dịch vụ cụ thể đó. Cầu thị trường là tổng số hàng hóa và dịch vụ mà tất cả mọi người trong thị trường sẵn sàng và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định, cầu thị trường là tổng hợp của các cầu cá nhân trong thị trường đó. Câu thị trường là cái mà ta có thể quan sát được trong thực tế [1]. Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu và hàm cầu 1.1 Các yếu tố xác định ảnh hưởng đến cầu Đường cầu biểu diễn mối quan hệ giữa giá và lượng cầu.
Điều đó cho thấy rằng giá cả hàng hóa hay dịch vụ (Px) chính là yếu tố then chốt xác định cầu. Theo luật cầu nếu giá một hàng hóa nào đó giảm hoặc tăng thì lượng cầu hàng hóa đó tăng hoặc giảm. Tuy nhiên, ngoài giá cả (yếu tố nội sinh) còn có rất nhiều yếu tố ngoại sinh khác làm thay đổi đường cầu như: thu nhập người tiêu dùng, giá cả hàng hóa có liên quan, quy mô thị trường, thị hiếu và kỳ vọng của người tiêu dùng. e 9 Thu nhập của người tiêu dùng (I) là một yếu tố quan trọng xác định cầu.
Thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mua của người tiêu dùng. Khi giá hàng hóa và dịch vụ không thay đổi, nếu thu nhập của người tiêu dùng tăng lên thì xu hướng chung của các cá nhân là sẽ mua nhiều hàng hóa hơn. Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc vào loại hàng hóa và dịch vụ đối với cá nhân người tiêu dùng.1 cho thấy theo quy luật Engel, nếu những hàng hóa hay dịch vụ nào có cầu tăng lên khi thu nhập tăng lên và ngược lại được gọi là hàng hóa thông thường. Hàng hóa hay dịch vụ nào có cầu giảm khi thu nhập tăng lên và ngược lại gọi là hàng hóa thứ cấp.
Mối quan hệ giữa thu nhập (I) và tượng cầu (Q) theo quy luật Engel Cầu đối với hàng hóa hay dịch vụ không chỉ phụ thuộc vào giá của bản thân hàng hóa hay dịch vụ đó mà nó còn phụ thuộc vào giá cả và tính sẵn có của hàng hóa hay dịch vụ khác có liên quan (PY). Các hàng hóa liên quan này chia thành hai loại là hàng hóa thay thế và hàng hóa bổ sung. + Hàng hóa thay thế là hàng hóa có thề sử dụng thay cho hàng hóa khác. Khi giá của một loại hàng hóa thay đổi (tăng hoặc giảm) thì cầu đối với hàng hóa thay thế kia cũng thay đổi (tăng hoặc giảm) theo.
Ví dụ: cửa kính và cửa gỗ; ga và điện. e 10 + Hàng hóa bổ sung là hàng hóa được sử dụng đồng thời với hàng hóa khác. Khi giá của hàng hóa này tăng lên, cầu về hàng hóa bổ sung kia giảm xuống và ngược lại. Ví dụ: ga và bếp ga; xăng và xe máy.
Quy mô thị trường (N) cũng, là một yếu tố ảnh hưởng đến cầu. Quy mô thị trường có thể được đo bằng dân số. Dân số càng lớn, số lượng người càng đông thì cầu về hàng hóa, dịch vụ càng nhiều. Ví dụ: cầu về gạo của Việt Nam và Trung Quốc.
Ở mỗi mức giá lượng cầu về gạo của Trung Quốc lớn hơn nhiều so với Việt Nam vì Trung Quốc có dân số lớn hơn nhiều so với dân số Việt Nam. Thị hiếu, sở thích (T) là một yếu tố ảnh hưởng đến cầu không thể bỏ qua. Sở thích của người tiêu dùng phản ánh thái độ của mỗi người đối với hàng hoá. Mức độ yêu, thích của mỗi người về một loại hàng hoá là rất khác nhau.
Đứng trước cùng một loại hàng hoá, người này có thể thích, người kia có thể không thích với những mức độ đánh giá khác nhau. Các kỳ vọng (E) được hiểu là sự mong đợi của người tiêu dùng và nó có tác động đến cầu về hàng hóa dịch vụ. Nếu người tiêu dùng dự đoán và mong đợi giá của hàng hóa nào đó trong tương lai sẽ giảm xuống thì cầu về hàng hóa hiện tại giảm và ngược lại. Tuy nhiên sự kỳ vọng của người tiêu dùng còn bao hàm cả kỳ vọng vào thu nhập, về giá hàng hóa liên quan, về thị hiếu,.
Tất cả những kỳ vọng này đều tác động đến cầu về hàng hóa hay dịch vụ ở hiện tại. Ngoài ra, Chính sách của Chính phủ (G) thông qua công cụ thuế hay trợ cấp, mức độ quảng cáo (A) hay mức lãi suất trên thị trường (r),. cũng là nhân tố quan trọng tác động đến cầu [1].2 Hàm số của cầu Với tất cả các yếu tố tác động đến cầu ta có thể viết hàm cầu dưới dạng như sau: e 11 QDXt =f(Px,PY,I,N,T,E,.) Trong đó: QDXt là lượng cầu đối với hàng hóa X trong thời gian t. Nếu giả định các nhân tố khác không thay đổi và chỉ xét đến yếu tố giá cả của bản thân hàng hóa hay dịch vụ (PD), hàm cầu theo giá có dạng: P = f (QD) hay QD = f(P) Khi chỉ xét đến yếu tố giá cả của bản thân hàng hóa hay dịch vụ, nếu giá (PD) và lượng cầu (QD) có quan hệ tuyến tính thì hàm cầu có dạng: PD = a + bQD hay QD = c + dP (với b, d là những hệ sổ góc và b, d< 0) [1] 1.
Khái niệm dự báo Dự báo là sự tiên đoán có căn cứ khoa học, mang tính chất xác suất về mực độ, nội dung, các mối quan hệ trang thái, xu hướng phát triển của đối tượng cần nghiên cứu. hoặc về cách thức và thời hạn đạt được cac mục tiêu nhất định đã đề ra cho tương lai. Ý nghĩa và tầm quan trọng của dự báo Tác dụng của dự báo đối với quản lý kinh tế nói chung rất to lớn. Dự báo và lập kế hoạch là hai giai đoạn liên kết chặt chẽ với nhau của một quá trình quản lý.
Trong mối quan hệ ấy phần dự báo sẽ góp phần giải quyết các vấn đề cơ bản sau: - Xác định xu thế phát triển của kinh tế, của khoa học kỹ thuật. - Đề xuất những yếu tố cụ thể quyết định các xu thế ấy. - Xác định quy luật và đặc điểm của sự phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật theo dự báo. Đặc biệt đối với ngành điện tác dụng của dự báo càng có ý nghĩa quan trọng, vì điện năng có liên quan rất chặt chẽ đối với các ngành kinh tế quốc dân, cũng như đến mọi sinh hoạt bình thường của người dân.
e 12 Do đó nếu dự báo không chính xác, sai lệch quá nhiều về khả năng cung cấp hoặc về nhu cầu điện năng thì sẽ dẫn đến hậu quả không tốt cho nền kinh tế. Ví dụ, nếu chúng ta dự báo nhu cầu điện năng quá thừa so với nhu cầu sử dụng thì sẽ dẫn đến hậu quả huy động nguồn quá lớn, tăng vốn đầu tư và tổn thất điện năng có thể tăng lên. Ngược lại, nếu chúng ta dự báo nhu cầu điện năng quá thấp so với nhu cầu thì sẽ không đủ điện cung cấp cho sinh hoạt, sản xuất kinh doanh gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế quốc dân. Phân loại dự báo a.
Căn cứ vào độ dài thời gian dự báo Dự báo ngắn hạn: là các dự báo theo giờ, ngày, tháng, mùa, năm (1 đến 2 năm). Loại dự báo này chủ yếu phục vụ việc điều hành sản xuất, chuyển tải và phân phối điện năng, phục vụ cho nhu cầu sản xuất trực tiếp và đời sống, lập kế hoạch sản xuất kinh doanh. Dự báo trung hạn: là những dự báo có thời gian dự báo từ 3 đến 10 năm. Thường phục vụ cho việc phân bổ vốn đầu tư, lập cân bằng giữa cung và cầu điện năng, lập kế hoạch xây dựng và theo dõi tiến độ xây dựng của các công trình, kế hoạch đại tu sữa chữa nâng cấp thiết bị, chuẩn bị xây dựng các kế hoạch dài hạn.
Dự báo dài hạn: là những dự báo có thời gian dự báo từ 10 năm trở lên. Thường dùng để định hướng cho sự phát triển của ngành, để hoạch định những chiến lược chính sách lớn đảm bảo phát triển bền vững cho toàn hệ thống. Ngoài ra các loại dự báo ngắn hạn và dài hạn nói trên chúng ta còn gặp dự báo điều độ với tầm dự báo vài giờ, vài ngày, vài tuần lễ để phục vụ cho công tác vận hành của các xí nghiệp, các hệ thống điện. Dự báo trung hạn và dài hạn là hết sức cần thiết và có vai trò hết sức quan trọng trong công tác nghiên cứu các xu thế có thể xảy ra ở cấp vĩ mô và vi mô của nền kinh tế nhằm đạt được tính tối ưu trong quá trình phát triển.
e 13 Thời gian dự báo càng xa, sai lệch sẽ càng lớn tác động của các yếu tố bất định càng nhiều. Vì vậy khi dự báo nhất là các dự báo trung và dài hạn thông thường người ta xác định một dải thông số (thấp, trung bình, cao) thay vì một trị số dự báo cố định [2, tr. Dựa vào các phương pháp dự báo Theo phương pháp dự báo, người ta chia dự báo thành hai loại chính là định tính và định lượng. Phương pháp định tính: Dự báo định tính đưa ra các kết quả dựa trên việc kết hợp thông tin với các nhận định chủ quan của người dự báo.
Những người này có khả năng nhận định xu hướng, đề xuất dựa trên kinh nghiệm và kiến thức nghề của họ như phương pháp chuyên gia, phương pháp Delphi… Phương pháp định lượng: Phương pháp định lượng dựa trên việc xử lý dữ liệu quá khứ với giả sử rằng các điều kiện trong quá khứ vẫn còn tiếp tục xảy ra ở hiện tại để dự báo. Vì vậy phương pháp này thường yêu cầu dữ liệu “dừng” tức định hình để dựa vào mối quan hệ trong quá khứ để dự báo tương lai.