CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Về tình thái Tình thái (TT) là một khái niệm có tính phổ quát trong ngôn ngữ học, từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm. Trong ngôn ngữ học trước đây, TT được coi là một phạm trù ngữ pháp biểu thị quan hệ giữa nội dung lời nói và hiện thực bằng các hình thái như thức của động từ, từ tình thái, từ chêm, ngữ điệu, các kiểu câu xét theo mục đích nói. Càng về sau, TT càng thu hút sự chú ý của nhiều người, không chỉ riêng trong ngôn ngữ học mà cả trong logic học hiện đại.
Khái niệm TT thường được các nhà ngôn ngữ học dùng để chỉ những mối quan hệ của nội dung thông tin miêu tả trong phát ngôn với hiện thực cũng như những quan điểm, thái độ, đánh giá của người nói đối với nội dung miêu tả trong câu nói, với người nghe và với hoàn cảnh giao tiếp. Nói một cách sơ lược nhất, phạm trù TT bao gồm hai bình diện là mối quan hệ của người nói với nội dung phát ngôn và nội dung phát ngôn với thực tế. Theo quan điểm ngôn ngữ học, những cái biểu hiện của ngôn ngữ nhất thiết phải có cái được biểu hiện tương ứng (nói ngược lại thì không chính xác), trên cơ sở đó một số hình thức của động từ lại được nhìn nhận như là những phương tiện biểu thị tình thái, cụ thể là những hiện tượng thuộc về phạm trù thức của động từ. Logic cổ điển tập trung chú ý trước hết vào các khái niệm tính tất yếu và tính có thể, được mệnh danh là tình thái logic hay tình thái tất suy.
Về khái niệm tình thái Cho đến nay có nhiều nhà ngôn ngữ học đã chuyên tâm nghiên cứu về TT nhưng vẫn chưa đi đến một thống nhất chung. Hơn nữa, do mục đích nghiên cứu riêng của các công trình nên các tác giả chỉ mới đề cập đến vấn đề TT ở mức độ sơ lược và khái quát. Sau đây, chúng tôi xin điểm qua ý kiến của một số tác giả trong và ngoài nước về khái niệm TT. Việc nghiên cứu tình thái ở các nước phương Tây Đối với việc nghiên cứu TT, từ khoảng giữa thế kỉ XX đến nay, các nhà ngôn ngữ học nước ngoài đã có những đóng góp đáng kể, đặc biệt trong vấn đề xây dựng lí luận chung.
Nhiều nhà ngôn ngữ học phương Tây đều coi TT thuộc phạm trù nghĩa, phân biệt nó với phạm trù ngữ pháp. TT là một bộ phận nghĩa tất yếu của mọi phát ngôn.Bally - người đầu tiên đề cập vấn đề một cách hệ thống. Ông cho rằng tình thái không phải là thứ nghĩa của nghĩa học mà nó biểu thị một khái niệm thuộc về cấu trúc ngữ nghĩa của câu. Bally cũng phân biệt cấu trúc nghĩa của phát ngôn thành hai thành phần cơ bản mà ông gọi là dictum và modus.
Trong đó: - Dictum biểu hiện nội dung thuộc về ngữ nghĩa của câu (tức cái được nói tới). Do đó, dictum gắn với chức năng thông tin, chức năng miêu tả của ngôn ngữ. - Modus thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, thái độ của người nói đối với điều được nói ra xét trong quan hệ với thực tế, với người đối thoại và với hoàn cảnh giao tiếp (bộ phận tình thái). Ví dụ trong tiếng Việt: (1) Anh đã đến.
(2) Anh chưa đến à? (3) Anh chưa đến đâu. (4) Có thể là anh đã đến. Trong các ví dụ trên, nội dung cốt lõi (dictum) là quá trình của sự việc được diễn tả. Sự việc ấy là hoạt động đến của anh, là sự đến của anh, nội dung cốt lõi đó có ở chung cả bốn câu.
Nói cách khác đó là nghĩa về sự việc được nói tới. Còn xét về tình thái thì theo Bally, chúng khác nhau: Ở câu (1) tình thái là việc thừa nhận sự việc, có thể với ít nhiều sự vui mừng ở người nói. 10 Ở câu (2) tình thái là việc hỏi về nội dung sự việc và có thể có cả sự sốt ruột của người nói. Ở câu (3) tình thái là việc phủ nhận nội dung sự việc, có thể bao hàm cả bực bội, thất vọng.
Ở câu (4) tình thái là việc thừa nhận nội dung sự việc với một độ tin cậy rất thấp. Từ cách nhìn nhận như vậy, Bally định nghĩa: Tình thái là thái độ của người nói được biểu thị đối với sự việc hay trạng thái diễn đạt trong câu.[17] Cách nhìn tương tự cũng thấy ở Palmer. Ông cho rằng: Tình thái là thông tin ngữ nghĩa của câu thể hiện thái độ hoặc ý kiến của người nói đối với điều được nói đến trong câu.[17] Một hướng nhìn khác cũng thường được nhắc đến là cách nhìn của nhà ngôn ngữ học Mĩ rất nổi tiếng Noam Chomsky - người mở đường cho trường phái tạo sinh. Ông quan niệm rằng, câu bao giờ cũng là câu khẳng định hay là câu nghi vấn hoặc câu mệnh lệnh.
Tính chất khác nhau của những câu đó là “tình thái”. Như vậy tình thái là yếu tố bắt buộc phải có, để cùng với “hạt nhân” tạo ra “câu cơ sở”. Không thể nào một câu mà lại không có tình thái, tức không thuộc một trong các kiểu câu nói trên. Cũng không thể nào lại có một câu có hai, ba tình thái, tức là cùng một lúc thuộc hai, ba kiểu câu.
Câu cơ sở thuộc “cấu trúc bề sâu”. Từ cấu trúc bề sâu chuyển thành cấu trúc bề mặt trong thực tiễn hoạt động ngôn ngữ, thì phải trải qua những cải biến. Như vậy, “TT chẳng khác gì kiểu câu như đã được nói đến trong ngữ pháp truyền thống và cả ngữ pháp cấu trúc” [17]. Theo trường phái tạo sinh, tình thái xác định kiểu câu, và kiểu câu được xác định ngay từ trong tư duy, trong cấu trúc bề sâu.
Cho nên, có thể hiểu rằng kiểu câu tức là kiểu quan hệ mà người nói thiết lập với thế giới được phản ánh trong câu. Quan hệ này được nhìn trước tiên ở mặt trí tuệ, nó biểu hiện nhận thức của người nói. Kiểu câu cũng được hiểu là kiểu quan hệ giao tiếp mà 11 người nói muốn thiết lập với người nghe. TT là yếu tố xác định kiểu câu, và kiểu câu biểu thị hai quan hệ gắn bó với nhau: quan hệ giữa người nói với người nghe [17].
Có thể hiểu rằng, so với quan điểm của Ch. Chomsky không xét đến thái độ tình cảm của người nói đối với hiện thực hay đối với người nghe, mà ông chỉ xét đến các yếu tố có ý nghĩa phân biệt các kiểu câu theo mục đích nói. Tuy đó là những cách hiểu khác nhau nhưng vẫn có thể được các nhà sư phạm khai thác trong một sự dung hoà tích cực. Trong phần tiếp theo của đề tài, tình thái được hiểu chủ yếu theo cách nhìn của F.Kiefer:“ Thực chất của tình thái bao gồm trong việc tạo lập tính tương đối giữa hiệu lực của các ý nghĩa của câu với một tập hợp các thế giới có thể có” [26].
Việc nghiên cứu tình thái ở Việt Nam Ở Việt Nam, kế thừa và phát huy những thành quả của các học giả nước ngoài, một số nhà nghiên cứu đã thực sự quan tâm đến vấn đề tình thái. Các tác giả Hoàng Tuệ, Hoàng Trọng Phiến, Cao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Lê Quang Thiêm, Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Thị Thuận… cơ bản thống nhất với quan niệm về tình thái của các nhà nghiên cứu nước ngoài. Hoàng Tuệ đã nhận định: Tình thái là thuật ngữ dùng để chỉ một cách khái quát những ý nghĩa thường gắn với ý nghĩa cơ bản của một từ. Ý nghĩa tình thái ấy được biểu thị bằng một hình thức ngữ pháp nào đấy, và được coi là ý nghĩa ngữ pháp [17].
Nguyễn Thiện Giáp cho tình thái trong ngôn ngữ là thái độ của người nói với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay tình trạng mà mệnh đề đó miêu tả, là thông tin ngữ nghĩa của câu thể hiện thái độ hoặc ý kiến của người nói đối với điều được nói ra [18]. Có thể thấy rằng, những cách trình bày về tình thái mà các tác giả Việt Nam đưa ra đã dựa trên những nét đặc thù của tiếng Việt. Ngoài ra, một vài nhà nghiên cứu khác cũng có nhắc đến khái niệm tình thái và nêu lên những cách hiểu về cơ bản là gần gũi với những cách hiểu nêu trên. Về việc phân loại tình thái Về phương diện lí thuyết, nhìn chung trong ngôn ngữ học phân chia tình thái thành hai loại lớn: tình thái nhận thức và tình thái trách nhiệm.
Tình thái nhận thức lại được chia thành hai kiểu nhỏ hơn là tình thái khách quan và tình thái chủ quan. Có thể tóm tắt sự phân loại vừa nêu như sau: Tình thái nhận thức thường gặp trong những câu trình bày sự thật hay những câu diễn đạt niềm tin của người nói. Tình thái nhận thức được phân biệt thành tình thái khách quan và tình thái chủ quan. Tình thái khách quan chỉ nhằm vào một số kiểu quan hệ chung nhất giữa phán đoán với hiện thực, mang tính khách quan, bản thể, gạt bỏ mọi nhân tố chủ quan như ý chí, đánh giá, mức độ cam kết, thái độ hay lập trường của người nói.
Người nói chỉ trình bày lại hiện thực như nó vốn có. Những câu có tình thái nhận thức khách quan là những câu trình bày sự thật, và với tư cách đó chúng có thể bị phủ định hoặc chất vấn, chúng có thể được đánh giá khi đối chiếu với hiện thực. Đối lập với tình thái khách quan là tình thái chủ quan. Tình thái chủ quan thể hiện vai trò của người nói đối với điều được nói ra trong câu.
Người nói đưa ra những bằng chứng, suy luận có tính cá nhân, làm cơ sở cho một cam kết nào đó đối với tính chân thực của điều được nói ra, hoặc thể hiện thái độ của mình đối với hành vi được đề cập đến trong câu. Những câu có tình thái nhận thức chủ quan là những câu diễn đạt niềm tin của người nói, không thể đối chiếu chúng với hiện thực, nói cách khác không thể kiểm tra được chúng. 13 Tình thái trách nhiệm có quan hệ với sự bắt buộc và sự cho phép. Những hành động có tính tình thái trách nhiệm rõ rệt là hành động điều khiển và hành động kết ước.
Hành động nói điều khiển có tình thái trách nhiệm thể hiện ở người nói bị bắt buộc hoặc được cho phép làm một việc gì đó. Hành động nói kết ước có tình thái trách nhiệm ở chỗ người nói tự bắt buộc mình làm một việc gì đó.