Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐƠN PHƢƠNG CHẤM DỨT THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DÂN SỰ 1. Khái quát về hợp đồng dân sự và thực hiện hợp đồng dân sự 1. Khái niệm hợp đồng dân sự Điều 388 BLDS năm 2005 quy định: "Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" [27]. Chế định hợp đồng trong luật dân sự Việt Nam là tập hợp các quy phạm pháp luật dân sự quy định về HĐDS.
Đây là một chế định quan trọng, trung tâm trong luật dân sự Việt Nam. Trong BLDS năm 2005 của nước ta, chế định về HĐDS đã được khẳng định với 205 điều trên tổng số 777 điều luật (từ Điều 388 đến Điều 593) đó là chưa kể đến 45 điều quy định về các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất (từ Điều 693 đến Điều 732). Điều đó chứng tỏ chế định HĐDS đóng vai trò rất quan trọng. Với việc ban hành BLDS năm 2005, từ ngày 01/01/2006, các quy định về HĐDS trong BLDS năm 2005 sẽ điều chỉnh chung cho các quan hệ về hợp đồng giữa các pháp nhân, cá nhân với nhau.
Như vậy, từ thời điểm này không còn sự phân biệt giữa hai loại hợp đồng kinh tế - dân sự theo căn cứ về chủ thể ký kết hợp đồng, mục đích giao kết hay các vấn đề có liên quan khác. Thực hiện hợp đồng dân sự Thực hiện HĐDS là việc các bên tiến hành các hành vi mà mỗi bên tham gia hợp đồng phải thực hiện nhằm đáp ứng những quyền dân sự tương ứng của bên kia, nhằm thực hiện những nghĩa vụ phát sinh trong hợp đồng. Những thỏa thuận trong hợp đồng có hiệu lực sẽ có giá trị ràng buộc các bên, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tức là hợp đồng có tính chất là "luật" giữa các bên. Các bên phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận theo đúng hợp đồng.
Việc thực hiện HĐDS phải tuân theo những nguyên tắc sau: Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thoả thuận khác; thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau; không được xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 412 BLDS năm 2005). Khi thực hiện HĐDS ngoài việc tuân thủ các quy tắc đã được quy định thì việc thực hiện hợp đồng còn phải tuân thủ theo những quy tắc nhất định đối với từng loại hợp đồng cụ thể như sau: - Với hợp đồng đơn vụ (chỉ một bên có nghĩa vụ còn một bên có quyền), bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng như đã thoả thuận; chỉ được thực hiện trước hoặc sau thời hạn nếu được bên có quyền đồng ý. - Với hợp đồng song vụ (mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau, nghĩa vụ của bên này là quyền của bên kia): Trong hợp đồng song vụ, khi các bên đã thoả thuận thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trong trường hợp các bên không thoả thuận bên nào thực hiện nghĩa vụ trước thì các bên phải đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với nhau; nếu nghĩa vụ không thể thực hiện đồng thời thì nghĩa vụ nào khi thực hiện mất nhiều thời gian hơn thì nghĩa vụ đó phải được thực hiện trước.
Trong hợp đồng song vụ, khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia thì có quyền yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 417 BLDS năm 2005). Nếu một bên không thực hiện được nghĩa vụ mà các bên đều không có lỗi thì bên không thực hiện được nghĩa vụ không có quyền yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trường hợp một bên 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đã thực hiện được một phần nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu bên kia thực hiện phần nghĩa vụ tương ứng đối với mình (Điều 418 BLDS năm 2005). Chấm dứt hợp đồng dân sự Chấm dứt HĐDS là việc các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định HĐDS không còn hiệu lực nữa, việc thực hiện hợp đồng kết thúc.
HĐDS chấm dứt trong các trường hợp sau: Thứ nhất: Hợp đồng chấm dứt khi các bên đã hoàn thành hợp đồng. Khi các bên tham gia hợp đồng đã thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ phần mình và do vậy mỗi bên đều đã đáp ứng được quyền dân sự của mình (mục đích khi giao kết HĐDS đã đạt được) thì hợp đồng coi như đã hoàn thành. Thứ hai: Hợp đồng chấm dứt theo thoả thuận của các bên. Trong những trường hợp bên có nghĩa vụ không có khả năng thực hiện hợp đồng hoặc nếu hợp đồng được thực hiện sẽ gây ra tổn thất lớn về vật chất của một hoặc hai bên thì các bên có thể thỏa thuận chấm dứt hợp đồng.
Hợp đồng đã giao kết được coi là chấm dứt tại thời điểm các bên đạt được sự thỏa thuận nói trên. Thứ ba: Chủ thể giao kết hợp đồng không tồn tại tại thời điểm đó. Trường hợp này hợp đồng không có một bên hoặc nhiều bên để thực hiện: Người giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặc chủ thể khác chấm dứt hoạt động mà hợp đồng phải do chính chủ thể đó thực hiện. Thứ tư: Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện.
Thứ năm: Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn và các bên có thể thỏa thuận thay thế đối tượng khác hoặc bồi thường thiệt hại. Đối tượng của hợp đồng là điều khoản căn bản chủ yếu của hợp đồng. Khi đối tượng không còn thì cũng không thể thực hiện được hợp đồng, vì vậy hợp đồng đương nhiên chấm dứt. Tuy nhiên, trong trường hợp này các bên có 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể thỏa thuận thay thế đối tượng khác, thực chất đó là việc chấm dứt hợp đồng trước và giao kết hợp đồng mới.
Thứ sáu: Các trường hợp khác do pháp luật quy định (Điều 424 BLDS năm 2005). Khái niệm đơn phƣơng chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự Khi đề cập đến từ "Đơn phương", chúng ta thường hiểu là sự biểu lộ, sự mong muốn từ một phía. Những cụm từ có "đơn phương" chúng ta hay gặp trong văn chương và cuộc sống là: "Mối tình đơn phương", "Tình yêu đơn phương" để nói về việc tình yêu mà chỉ một phía yêu và muốn được yêu còn bên kia thì không yêu và không muốn đáp lại. Để tìm hiểu về "đơn phương", tác giả xin trích dẫn một số định nghĩa tại một số cuốn "Từ điển Tiếng Việt".
Theo Từ điển Tiếng Việt của Nxb Khoa học xã hội, năm 1997: Đơn phương là phó từ có nghĩa "từ một bên, không có sự thỏa thuận hoặc tham gia của bên đối địch" [34, tr. Việc giải thích từ "đơn phương" như vậy không thuyết phục vì bên kia chưa chắc đã là "bên đối địch". Theo Từ điển Tiếng Việt, Nxb Thống kê năm 2004: "đơn phương" là một tính từ có nghĩa "có tính chất của một bên, phân biệt với song phương" [35, tr. Việc giải thích của Từ điển này hợp lý hơn nhưng vẫn có hạn chế như chưa chỉ rõ ý chí (mong muốn, nguyện vọng) của một bên về việc gì đó và "đơn phương" không chỉ để phân biệt với "song phương" mà còn phân biệt với "đa phương".
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư thì "đơn phương" là "sự thể hiện ý chí của riêng một bên, không có sự thỏa thuận hoặc sự tham gia của bên kia; phân biệt với đa phương hoặc song phương" [33]. Định nghĩa này hợp lý hơn cả trong số ba định nghĩa về "đơn phương" tại các Từ điển Tiếng Việt nói trên vì đã khẳng định "đơn phương" có tính ý chí, thể hiện ý chí của một bên, khi thể hiện ý chí đó không có sự thỏa thuận hoặc tham gia của bên kia và dùng để phân biệt với "đa phương" (nhiều bên) hoặc "song phương" (hai bên). 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vậy ĐPCDHĐDS là gì? Căn cứ vào định nghĩa về từ "đơn phương" tại Từ điển Bách khoa toàn thư nói trên, ĐPCDHĐDS trước hết là việc chấm dứt HĐDS theo ý chí của "riêng một bên". Đây là hành động có ý chí, ý chí đó thể hiện mong muốn, nguyện vọng (là động cơ phát sinh yêu cầu chấm dứt) của người có hành động đơn phương.
HĐDS cũng giống như các sự vật, hiện tượng nói chung trong thế giới vật chất, trải qua quá trình phát sinh, phát triển và chấm dứt nhưng giao kết HĐDS là hành vi của con người có ý thức (có năng lực hành vi dân sự) nên việc giao kết, thực hiện và chấm dứt HĐDS phát sinh từ những hành vi có ý thức của các bên giao kết. Hành vi có ý thức đó có khi do hai bên cùng thống nhất, có khi là do ý chí của một bên nhưng ý chí đó phải "đúng", vì thế mà bên kia mới chấp nhận. Nếu việc chấm dứt hợp đồng do hai bên cùng thỏa thuận khi hợp đồng đang thực hiện thì không phải là ĐPCDHĐ. Việc chấm dứt HĐDS do một bên mong muốn, yêu cầu diễn ra "nửa chừng" khi HĐDS đã giao kết, đang trong quá trình thực hiện, chưa thực hiện xong nghĩa vụ hợp đồng và chưa hết thời hạn hợp đồng.
Khi giao kết HĐDS, các bên đều có mục đích nhất định, hướng tới lợi ích nhất định nên đều mong muốn hợp đồng đó được thực hiện xong với những nghĩa vụ được hoàn thành, những quyền lợi tương ứng được đáp ứng. Để đạt được điều đó, họ thường thỏa thuận về thời hạn hợp đồng. Nhưng chấm dứt HĐDS do đơn phương yêu cầu là chấm dứt "nửa chừng" - chấm dứt khi đã thực hiện được "một phần" những gì thỏa thuận, kể cả nghĩa vụ và thời hạn; hợp đồng đã giao kết, đang thực hiện nhưng chưa xong thì chấm dứt, nó còn dang dở so với thỏa thuận ban đầu. Ý chí chấm dứt hợp đồng "nửa chừng" của một bên nào đó phải "đúng", tức là bên đó có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Quyền đó thể hiện bên đơn phương ĐPCDHĐDS được làm như vậy và bên kia không được phản đối, cản trở. Quyền đó có được trên cơ sở nào? Khoản 1 Điều 29 Pháp lệnh HĐDS năm 1991 quy định: "Một bên có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.