Phần mở đầu - Phần nội dung gồm ba chƣơng: + Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý đổi mới PPDH ở trƣờng THPT. + Chƣơng 2: Thực trạng quản lý đổi mới PPDH ở các trƣờng THPT 6 huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định + Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý đổi mới PPDH ở các trƣờng THPT huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. - Kết luận và khuyến nghị - Phụ lục - Tài liệu tham khảo 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Các nghiên cứu ngoài nƣớc Lý thuyết lãnh đạo, quản lý sự thay đổi xuất hiện vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi tìm hiểu những khó khăn trong thực tế hoạt động quản lý, giáo sƣ J.Kotter trƣờng kinh doanh Harvard và một số cộng sự trong cuốn sách Dẫn dắt sự thay đổi [18] nêu quan điểm: + Thực tiễn lãnh đạo, quản lý sự thay đổi đòi hỏi phải vận dụng tổng hợp các trƣờng phái lý thuyết có liên quan khác nhau nhằm giúp cho ngƣời lãnh đạo, quản lý có tƣ duy, cách tiếp cận linh hoạt và rõ ràng hơn. + Môi trƣờng lãnh đạo, quản lý sự thay đổi, đòi hỏi ngƣời lãnh đạo, quản lý phải có tầm nhìn, khả năng thích ứng và năng lực lãnh đạo, quản lý sự thay đổi. + Lý thuyết lãnh đạo, quản lý sự thay đổi là sự kết hợp chặt chẽ của ba trƣờng phái lý thuyết: trƣờng phái phân tích, trƣờng phái học tập, trƣờng phái quyền lực.
Ở phƣơng Tây và một số nƣớc Đông Nam Châu Á, lý thuyết lãnh đạo, quản lý sự thay đổi đã và đang có giá trị lý luận và thực tiễn cao, trong vòng 10 năm trở lại đây đã trở thành tài liệu bồi dƣỡng về lý thuyết và kỹ năng quản lý ở nhiều nƣớc (trong đó có Việt Nam) cho các nhà lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, quản lý xã hội và lãnh đạo, quản lý giáo dục. Trong cuốn “quản lý sự thay đổi’" [10], R.Heller đã nghiên cứu và chỉ ra tính cấp thiết của sự thay đổi trƣờng học, các bƣớc tổ chức thực hiện sự thay đổi, mô hình của trƣờng học thành công, v. 8 Ngoài ra, lý thuyết về quản lý sự thay đổi trong giáo dục đã đƣợc nhiều nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm nghiên cứu: Bertie Everard [6], Bernt Davies, Linda Ellion [4]. Các nghiên cứu trong nƣớc Thực tiễn quản lý, giáo dục ở Việt Nam từ khi đất nƣớc tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay cho thấy nhu cầu thay đổi của các nhà trƣờng nói chung và sự thay đổi trong quản lý nói riêng ngày càng cấp thiết.
Những năm gần đây một số nhà nghiên cứu và làm công tác quản lý ở Việt Nam đã đề cập đến sự cần thiết phải thay đổi trong hoạt động dạy học để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn giáo dục. Tiêu biểu là các công trình của tác giả Thái Duy Tuyên với công trình “Một số vấn đề đổi mới phƣơng pháp dạy học" [14], Phan Trọng Luận với bài viết "Đổi mới PPDH theo hƣớng hoạt động hoá ngƣời học" trong các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn ở THPT [19], Quách Tuấn Ngọc, "Đổi mới phƣơng pháp dạy học bằng công nghệ thông tin. Xu thế của thời đại" [22]. Năm 2002, tác giả Lưu Xuân Mới có bài "Đổi mới phƣơng pháp dạy học nhằm nâng cao chất lƣợng và hiệu quả đào tạo" [20].
Hoàng Minh Thao, Hà Thế Truyền với “QLGD tiểu học theo định hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [23]; Công trình của tác giả Trần Kiểm “Tiếp cận hiện đại trong QLGD” [16]. Đặc biệt, tác giả Trần Ngọc Giao và cộng sự đã xây dựng “Tài liệu tập huấn chƣơng trình bồi dƣỡng cho Hiệu trƣởng trƣờng phổ thông theo liên kết Việt Nam- Singapore ” [14]. Trên tạp chí Giáo dục số 3/2005, tác giả Đặng Xuân Hải có bài viết: “Vận dụng lý thuyết quản lý sự thay đổi để chỉ đạo đổi mới phƣơng pháp dạy học trong các trƣờng đại học trong giai đoạn hiện nay” [9]. Trong cuốn “quản lý sự thay đổi” [8], tác giả Đặng Xuân Hải cũng đã cụ thể hóa “11 bƣớc của quá trình quản lý sự thay đổi”.
- “Quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở các trường 9 trung học phổ thông trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định” (2019) của Phan Công Nhơn. - "Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường trung học phổ thông huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh" (2019) của Lê Thanh Nhân. - “Quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên” (2018) của Nguyễn Công Chơn. Nhìn chung tất cả các công trình nêu trên đều đã đề cập đến vấn đề đổi mới PPDH và quản lý đổi mới PPDH trong nhà trƣờng phổ thông hiện nay, và đã chỉ ra đƣợc sự cần thiết cũng nhƣ những nguyên nhân ảnh hƣởng đến quá trình thực hiện quản lý đổi mới PPDH.
Đồng thời cũng đã khẳng định đƣợc thay đổi nhà trƣờng và thay đổi quản lý đổi mới PPDH, đó là điều tất yếu trong sự phát triển của xã hội hiện nay. Tuy nhiên, chƣa có công trình nào nghiên cứu về quản lý đổi mới PPDH dạy học ở các trƣờng THPT huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Vì vậy để góp phẩn nâng cao chất lƣợng quản lý đổi mới PPDH đạt hiệu qủa, tác giả chọn đề tài “Quản lý đổi mới phương pháp dạy học ở các trường THPT huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định” để nghiên cứu. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 1.
Khái niệm quản lý giáo dục 1. Khái niệm quản lý Khái niệm “quản lý” đƣợc hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại cũng nhƣ nhu cầu của thực tiễn nó đƣợc xây dựng và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn. Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Hoạt động quản lý là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con ngƣời kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung.
Chính vì thế quản lý đƣợc hiểu bằng nhiều cách khác nhau trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau. 10 - Cách tiếp cận theo thực tiễn: Trên cơ sở phân tích quản lý bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm qua các trƣờng hợp cụ thể. Từ việc nghiên cứu những trƣờng hợp thành công hoặc thất bại, sai lầm ở các trƣờng hợp cá biệt của những ngƣời quản lý cũng nhƣ dự định của họ để giải quyết những vấn đề đặc trƣng, để từ đó giúp họ hiểu đƣợc phải làm nhƣ thế nào để quản lý có hiệu quả trong những hoàn cảnh tƣơng tự. - Cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống: cách tiếp cận này cho phép xem xét các hoạt động quản lý nhƣ một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm những yếu tố và mối liên hệ tƣơng tác giữa các nhân tố để đạt đƣợc mục tiêu đã xác định.
- Cách tiếp cận theo thuyết hành vi: Dựa trên những ý tƣởng cho rằng quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con ngƣời. Do vậy việc nghiên cứu nên tập trung vào mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời. Nhƣ vậy, khái niệm “quản lý” là một khái niệm rất chung, tổng quát. Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về “quản lý”.
Theo Đại Bách khoa toàn thƣ Liên Xô (1977): “Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động” [11]. Theo Hà Sĩ Hồ: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [13]. Theo tác giả Trần Khánh Đức: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất” [5]. Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể 11 quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [17].
Các khái niệm về quản lý tuy khác nhau, song chúng có chung những dấu hiệu chủ yếu đó là: “Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích; hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức” [17]. Từ những điểm chung của các quan niệm, khái niệm về “quản lý” trên, chúng tôi rút ra một định nghĩa khái quát: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”. Khái niệm quản lý giáo dục Để tồn tại và phát triển, con ngƣời phải trải qua quá trình lao động, học tập. Và trong cuộc sống hàng ngày, con ngƣời nhận thức thế giới xung quanh, dần dần tích lũy đƣợc kinh nghiệm, từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết ấy cho nhau.
Đó chính là nguồn gốc phát sinh của hiện tƣợng giáo dục. Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trƣờng, là một bộ phận của quản lý xã hội, một loại hình quản lý đặc biệt phong phú. Cũng nhƣ khái niệm quản lý, quản lý giáo dục chƣa có khái niệm đồng nhất. Khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách hiểu khác nhau.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa VIII đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống quản lý giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [1].