phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, cấu trúc của luận văn gồm 3 chƣơng sau: Chƣơng 1. Về lý thuyết diễn ngôn và sự trăn trở đổi mới tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu Chƣơng 2. Diễn ngôn tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu sau 1975 dƣới góc độ nội dung tƣ tƣởng Chƣơng 3. Đặc điểm chiến lƣợc diễn ngôn của tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu sau 1975 qua ngôn ngữ và giọng điệu.
e 9 CHƢƠNG 1 VỀ LÝ THUYẾT DIỄN NGÔN VÀ SỰ TRĂN TRỞ ĐỔI MỚI TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN MINH CHÂU 1. Về lý thuyết diễn ngôn 1. Khái niệm diễn ngôn Thuật ngữ diễn ngôn chỉ mới xuất hiện trong tiếng Việt trong vòng ba thập niên gần đây. Bằng chứng là các cuốn từ điển tiếng Việt xuất bản trƣớc năm 2000, tiêu biểu là Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ (Hoàng Phê chủ biên, 1997), không ghi nhận mục từ diễn ngôn.
Thuật ngữ này chỉ đƣợc dùng trong một phạm vi khá hẹp, chủ yếu ở một số ngành khoa học xã hội và nhân văn nhƣ ngôn ngữ học, văn học, lịch sử. Diễn ngôn vốn có nguồn gốc phƣơng Tây, đƣợc dịch từ thuật ngữ discourse. Theo Diệp Quang Ban trong công trình Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản, “nhà ngôn ngữ học ngƣời Bỉ E.Buysen là ngƣời đầu tiên sử dụng discourse nhƣ một khái niệm chuyên môn trong tác phẩm Hoạt động nói năng và văn bản (1943)” [65]. Ban đầu, diễn ngôn là một thuật ngữ của chuyên ngành ngôn ngữ học.
Về sau, thuật ngữ này đƣợc mƣợn lại ở nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa văn học. Ở phƣơng Tây, nghiên cứu diễn ngôn trở thành một trào lƣu khoa học phát triển rất mạnh và “trở thành một khái niệm trung tâm, đƣợc lƣu hành rộng rãi trong khoa học xã hội và nhân văn” [65] từ những năm 60 của thế kỷ XX. Ở nƣớc ta, vấn đề diễn ngôn đƣợc giới thiệu, ứng dụng từ những năm cuối thế kỷ XX, khởi đầu từ những công trình nghiên cứu ngôn ngữ học. Tuy nhiên, cho đến nay, thuật ngữ diễn ngôn vẫn chƣa có sự thống nhất trong cách hiểu.
Theo Trần Đình Sử, một trong những nhà lý luận văn học tiếp cận với lý thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu văn học từ rất sớm, “trong thời gian gần e 10 đây trong nghiên cứu văn học, xã hội học, khái niệm diễn ngôn đã đƣợc sử dụng nhiều, song nhìn kĩ các tài liệu tiếng Việt khi sử dụng khái niệm này hiện còn có phần lúng túng” [80]. Trong bối cảnh ấy, ông đƣa ra 6 nội dung cơ bản của thuật ngữ diễn ngôn nhƣ sau: Thứ nhất, diễn ngôn là thực tiễn hoạt động giao tiếp của con ngƣời. Mọi hoạt động giao tiếp của con ngƣời đều đƣợc xem là những diễn ngôn. Thứ hai, diễn ngôn là phƣơng thức biểu đạt về mọi phƣơng diện đời sống bằng ngôn ngữ.
Cách biểu hiện về con ngƣời, thế giới, các sự việc… bằng ngôn ngữ đều là diễn ngôn. Thứ ba, diễn ngôn hƣớng tới nhiệm vụ tái hiện mọi phƣơng diện của đời sống thông qua ngôn ngữ. Chức năng của diễn ngôn chính là thông qua ngôn ngữ, bằng ngôn ngữ tái hiện lại cuộc sống. Thứ tư, diễn ngôn hoạt động theo nguyên tắc, cơ chế của riêng nó.
Sự tái hiện bức tranh thế giới bằng ngôn ngữ của diễn ngôn bao giờ cũng tuân theo những nguyên lý, nguyên tắc nhất định. Thứ năm, diễn ngôn là tiếng nói của một chủ thể quyền lực trong xã hội, là tiếng nói của kẻ chiếm địa vị thống trị về tƣ tƣởng ở một thời đại nào đó. Và cuối cùng, diễn ngôn không chỉ là một hiện tƣợng xã hội, nó còn là một hiện tƣợng siêu văn bản, liên văn bản. Diễn ngôn gắn liền với chủ thể diễn ngôn nhƣng không có tác giả cụ thể bởi nó là tiếng nói của một thời đại, của chủ thể quyền lực trong một thời đại nào đó.
Tóm lại, “diễn ngôn là hiện tƣợng xã hội, có tính chỉnh thể, tính liên tục, tính thống nhất, tính hệ thống” [81; tr. Khái niệm diễn ngôn có nội hàm hết sức phong phú. Trên trang website của Khoa Ngữ văn (Trƣờng Đại học Khoa học Huế), Lã Nguyên, một nhà nghiên cứu lý thuyết văn học uy tín, cho công bố bài dịch “22 định nghĩa về diễn ngôn”. Trong bài viết này, dịch giả giới thiệu “22 đoạn trích” luận bàn về thuật ngữ diễn ngôn của các nhà phê bình văn học nổi tiếng thế giới, đƣợc rút ra từ tác phẩm Các lí thuyết diễn ngôn hiện đại: Phân tích đa ngành [73].
Qua 22 định nghĩa này, có thể thấy, nội hàm của khái niệm diễn ngôn rất rộng, cho e 11 phép ứng dụng trong nghiên cứu ở nhiều phạm vi khác nhau, nhƣ nhận định của Sara Mills trong Discourse: “Diễn ngôn là thuật ngữ có phạm vi nghĩa khả hữu rộng nhất so với bất cứ thuật ngữ nào khác thuộc lí luận văn học và văn hóa” [dẫn theo 59; tr. Trong luận văn này, chúng tôi dựa trên tinh thần 6 nội dung về thuật ngữ diễn ngôn trong cách hiểu của Trần Đình Sử làm cơ sở nghiên cứu vấn đề. Diễn ngôn văn học Khởi đi từ lĩnh vực ngôn ngữ học, diễn ngôn trở thành thuật ngữ của nhiều ngành khoa học xã hội. Nhiều loại hình diễn ngôn ra đời: diễn ngôn văn hóa, diễn ngôn lịch sử, diễn ngôn xã hội học, diễn ngôn văn học… Vậy, diễn ngôn văn học là gì? Xét dƣới góc độ diễn ngôn, bản chất của văn học là diễn ngôn về đời sống.
Nói cách khác, mỗi tác phẩm văn học là một hay nhiều diễn ngôn về chính đời sống con ngƣời. Theo Trần Đình Sử, trong thực tiễn giao tiếp của đời sống, có nhiều loại diễn ngôn khác nhau. Nếu chính trị, pháp luật, chính sách, nghị quyết… đƣợc xem là những diễn ngôn trung tâm thì “văn học chủ yếu là diễn ngôn ngoại biên” [81; tr. Nhƣng cũng nhƣ các diễn ngôn ngoại biên khác, diễn ngôn văn học gắn bó mật thiết với đời sống con ngƣời, là tiếng nói của con ngƣời ở mỗi thời đại, luôn đồng hành với con ngƣời qua từng thời kỳ lịch sử.
Mỗi thời đại quy định nên những diễn ngôn văn học khác nhau và qua diễn ngôn văn học ấy, ta có thể hiểu hơn về nhiều phƣơng diện của đời sống con ngƣời ở từng thời đại. Trong bài viết “Bƣớc ngoặt diễn ngôn và sự thay đổi hệ hình nghiên cứu văn học”, Trần Đình Sử cho rằng văn học là một loại diễn ngôn, vừa mang tính chất chung của diễn ngôn vừa có những đặc thù của loại hình nghệ thuật ngôn từ [81; tr. Theo ông, cái chung đó là diễn ngôn văn học mang tính ý thức hệ; là phƣơng thức tồn tại của con ngƣời, kiến tạo nên bản thân e 12 hiện thực; có quy tắc, cơ chế, chức năng riêng. Do đó, nghiên cứu văn học nói riêng hay diễn ngôn nói chung là nghiên cứu về con ngƣời, xã hội, văn hóa.
Nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu dƣới góc độ diễn ngôn chính là nghiên cứu phát ngôn nghệ thuật về con ngƣời, xã hội, văn hóa Việt Nam trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu trƣớc và sau 1975. Văn học là một loại hình nghệ thuật phức tạp. Tính đặc thù của diễn ngôn văn học cũng là một vấn đề phức tạp. Đã có nhiều công trình lý luận văn học tập trung nghiên cứu, đi tìm những đặc thù của diễn ngôn văn học và chỉ ra những đặc thù ấy là “tính văn học”, “tính hƣ cấu”, “hình tƣợng”, “các biện pháp tu từ.
Tuy nhiên, theo các nhà lý luận văn học lớn nhƣ J. Campagnon tính đặc thù của diễn ngôn văn học là rất mong manh và gần nhƣ… không có gì là đặc thù cả. Bởi, những đặc thù ấy ngƣời ta cũng tìm thấy ở các văn bản phi văn học. Vì thế, xét đến cùng, đặc trƣng của diễn ngôn văn học chỉ mang tính chất tƣơng đối.
Vậy, tại sao có thể xem văn học nhƣ là một diễn ngôn? “Theo J. Culler, nên hiểu tác phẩm văn học nhƣ là một diễn ngôn, có đặc điểm là nếu thoát ly ngữ cảnh thì tự nó sẽ thành ngữ cảnh, và tuy không có đặc trƣng, nhƣng nó có các thuộc tính có giá trị phân biệt trên nét lớn” [81; tr. Culler, 5 thuộc tính của diễn ngôn văn học là: 1. “Ngôn ngữ nổi bật do sử dụng các thủ pháp lạ hóa, các phép tu từ”; 2.
“Ngôn ngữ sử dụng tổng hợp mọi thuộc tính, mọi quan hệ từ ngữ âm đến chữ viết để tạo nên hiệu quả”; 3. “Văn học là hƣ cấu”; 4. “Văn học là đối tƣợng thẩm mĩ” và 5. “Văn học là một kiến tạo văn bản tự nó khúc xạ, tự nó tạo nghĩa” [81; tr.
Các thuộc tính này có quan hệ mật thiết, giao thoa lẫn nhau. Nếu văn học là diễn ngôn về đời sống thì lí luận, phê bình văn học chính là diễn ngôn về văn học. Nhƣ vậy, từ góc độ lý thuyết diễn ngôn, có thể nói, nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu chính là một diễn ngôn về e 13 tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu, bên cạnh những diễn ngôn khác. Bản thân nghiên cứu, lí luận, phê bình văn học đã là một diễn ngôn.
Cho nên, vấn đề nghiên cứu văn học dƣới góc độ lý thuyết diễn ngôn chỉ là một diễn ngôn khác trong các diễn ngôn về văn học. Nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu từ góc độ diễn ngôn chính là một diễn ngôn khác về tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu, bên cạnh các diễn ngôn nhƣ nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu từ góc độ xã hội học, văn hóa học, tự sự học, phân tâm học, phê bình sinh thái,… Có thể nói, lý thuyết diễn ngôn mở ra một “bƣớc ngoặt” làm thay đổi hệ hình nghiên cứu văn học. Vận dụng lý thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu văn học là hƣớng đi khả thi, tiềm năng, có thể giúp giải mã nhiều vấn đề phức tạp của văn chƣơng. Đây cũng là hƣớng nghiên cứu đầy hứa hẹn trong việc khám phá các tầng vỉa ý nghĩa của tác phẩm văn học.
Tiếp cận tác phẩm của Nguyễn Minh Châu dƣới góc độ diễn ngôn hiện nay vẫn còn là một hƣớng nghiên cứu khá mới mẻ và đầy triển vọng. Luận văn Diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu sau 1975 của chúng tôi là sự tiếp nối thành quả trƣớc đó, đồng thời cũng là sự trải nghiệm mới trong hành trình khám phá một phần trong sự nghiệp văn học đồ sộ của nhà văn đƣợc mệnh danh là “ngƣời mở đƣờng tinh anh và tài hoa” cho văn học Việt Nam sau 1975. Tình hình giới thiệu, vận dụng lý thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam Ở nƣớc ta, vấn đề diễn ngôn đƣợc giới thiệu sớm nhất trong lĩnh vực ngôn ngữ học.