Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Dạy học toán theo định hướng hình thành và phát triển năng lực toán cho học sinh 1. Khái niệm năng lực Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm năng lực: Theo từ điển Tiếng Việt [15]: Năng lực là điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao. Nói cách khác: “Năng lực là những đặc điểm tâm lý cá nhân của con người đáp ứng được yêu cầu của một loạt hoạt động nhất định và là điều kiện cần thiết để hoàn thành có kết quả tốt đẹp loại hoạt động đó”[16].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc [5]: “Năng lực là một tổ hợp tâm lý của một người, tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy”.Côvaliôp cho rằng: “Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu lao động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao” [3]. Theo Xavier Roegiers [20]: “Năng lực là sự tích hợp các kỹ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loạt tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do tình huống này đặt ra”. Như vậy, NL là một khái niệm tích hợp, nó bao hàm cả những nội dung, những hoạt động cần thực hiện và những tình huống trong đó diễn ra các hoạt động. Điểm chung cơ bản trong những cách tiếp cận khái niệm NL trên đây của các tác giả đó là: Thứ nhất, NL luôn được xem xét trong mối quan hệ với hoạt động hay một tình huống nhất định nào đó.
Thứ hai, bản chất của NL là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính tâm lý cá nhân khác để thực hiện tốt một công việc trong bối cảnh nhất định. Kế thừa các quan điểm trên, trong đề tài này chúng tôi thống nhất với quan niệm về NL như sau: Năng lực là tổ hợp các kỹ năng của cá nhân đảm bảo thực hiện được một dạng họat động nào đó. Năng lực chung và năng lực chuyên biệt Thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dục theo định hướng "kết quả đầu ra và phát triển năng lực, phẩm chất của người học", Bộ GD&ĐT đã đưa ra dự thảo chương trình giáo dục phổ thông (sau 2015) trong đó chỉ rõ cần hình thành và phát triển cho HS các NL chung và NL chuyên biệt bao gồm: * Các NL chung (các NL cốt lõi) - Nhóm NL làm chủ và phát triển bản thân: NL tự học; NL GQVĐ và sáng tạo; NL thẩm mỹ; NL thể chất. - Nhóm NL về quan hệ xã hội: NL giao tiếp; NL hợp tác.
9 - Nhóm NL công cụ: NL sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông; NL tính toán. * Các NL chuyên biệt môn học: Trên cơ sở các NL chung, ở mỗi môn học, mỗi hoạt động giáo dục cần hình thành những NL chuyên biệt riêng, Những NL chuyên biệt này giúp HS học tập và hoạt động tốt hơn. Ngược lại, chúng góp phần hình thành và phát triển các NL chung cho HS. Năng lực chung và năng lực chuyên biệt đều được hình thành và phát triển thông qua các môn học, hoạt động giáo dục; NL chuyên biệt vừa là mục tiêu vừa là “đơn vị thao tác” trong các hoạt động dạy học, giáo dục góp phần hình thành và phát triển các NL chung.
Qua nghiên cứu, các NL chung và NL chuyên biệt môn học chúng tôi nhận thấy: Năng lực của học sinh tiểu học là tổ hợp các kỹ năng của học sinh nhằm vận dụng tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm, thái độ để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ học tập cũng như các tình huống trong đời sống. Năng lực toán học Có rất nhiều quan niệm về NL toán học: Theo các tác giả Phạm Văn Hoàn, Trần Thúc Trình, Phạm Gia Cốc [30]: Năng lực toán học được hiểu là những đặc điểm tâm lý cá nhân đáp ứng nhu cầu của hoạt động học tập toán học, và trong những điều kiện vững chắc như nhau thì nguyên nhân của sự thành công nằm trong việc nắm vững một cách sáng tạo toán học với tư cách là môn học, đặc biệt nắm vững tương đối nhanh, dễ dàng, sâu sắc những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực toán học. Theo Danish Kom Project [21]: "Năng lực toán học là khả năng hiểu, phán đoán làm và sử dụng toán học vào giải quyết các tình huống toán học từ quá trình học tập đến thực tiễn đời sống". Năng lực toán theo OECD/PISA [22] là NL của một cá nhân có thể nhận biết về ý nghĩa, vai trò của kiến thức toán học trong cuộc sống; là khả năng lập luận và giải toán vận dụng nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống hiện tại 10 và tương lai một cách linh họat.
Năng lực toán bao gồm cách sử dụng thực tiễn của toán học theo nghĩa hẹp cũng như việc học tập sau này và các yếu tố mỹ học và giải trí của toán học. PISA cũng xem “Toán học hóa” là mấu chốt phát triển NL toán học cho HS. Trong đề tài này, chúng tôi thống nhất với quan niệm về NL toán học một cách chung nhất như sau: Năng lực toán học là tổ hợp các kỹ năng của cá nhân đảm bảo thực hiện các được một dạng họat động toán học, các kỹ năng của cá nhân vừa là sản phẩm của sinh lý (có sẵn), vừa là sản phẩm của tâm lý (do rèn luyện mà có), các họat động toán là các thao tác đặc trưng (phân tích, suy luận, chứng minh,…) với các đối tượng, nội dung toán học. Năng lực toán học được hiểu là những đặc điểm tâm lý của cá nhân đáp ứng yêu cầu họat động toán học.
Cơ sở lý luận hình thành và phát triển năng lực toán học cho học sinh - Năng lực toán học được coi là một mục tiêu dạy học. Bởi lẽ, mục tiêu dạy học toán không chỉ là trang bị cho HS kiến thức, kỹ năng mà còn giúp HS học cách phát hiện và GQVĐ cũng như các NL toán học khác. - Năng lực toán học đặc biệt là NL GQVĐ được coi như một nội dung dạy học. Bởi vì NL GQVĐ có thể rèn luyện và phát triển được, hơn nữa GV là người biết nên dạy khi nào? dạy như thế nào? cần tích hợp với các nội dung nào?.
- Năng lực toán học có thể đánh giá theo từng giai đoạn. Thật vậy, GV cần đưa ra những câu hỏi, tình huống mở nhằm đánh giá tư duy sáng tạo của HS, quan sát quá trình học, quá trình hoạt động của HS để đánh giá kỹ năng GQVĐ. Qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, chúng tôi nhận định rằng: Việc hình thành và phát triển NL toán học cho HS tiểu học không chỉ giúp các em hứng thú hơn với môn toán mà còn góp phần hình thành những kỹ năng thực hành cần thiết, những phẩm chất khoa học và độc lập mang sắc thái cá 11 nhân của từng HS, quá trình giúp đỡ HS phát triển NL toán cũng chính là quá trình GV tự bồi dưỡng, nâng cao NL chuyên môn của mình, góp phần dạy học môn toán có hiệu quả. Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học hiện đại vận dụng trong dạy học phát triển năng lực học sinh 1.
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 1. Quan niệm về dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là PPDH trong đó người thầy tổ chức cho trò học tập trong hoạt động và bằng hoạt động do thầy tạo ra các tình huống hấp dẫn gợi sự tìm hiểu của HS, gợi ra vướng mắc mà họ chưa giải quyết ngay được nhưng có liên hệ với tri thức đã biết, khiến họ thấy có triển vọng tự giải đáp được nếu tích cực suy nghĩ. Qua đó, HS từng bước lĩnh hội được tri thức mới cho bản thân [14]. Các cấp độ dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thường phân biệt 3 cấp độ khác nhau tùy theo mức độ độc lập của học sinh trong hoạt động học tập: Cấp độ 1: Thuyết trình giải quyết vấn đề: Giáo viên tạo tình huống có vấn đề, nêu vấn đề và trình bày cách giải quyết vấn đề; học sinh thực hiện giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên.
Cấp độ 2: Đàm thoại nghiên cứu vấn đề: Học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề nhờ sự gợi ý, đẫn dắt của giáo viên. Cấp độ 3: Tự nghiên cứu vấn đề: Giáo viên tạo tình huống có vấn đề, học sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đề. Quy trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Dạy học GQVĐ trong môn Toán được Kilpatrick tổng kết theo 3 kiểu dạy học sau [24]: 12 - Kiểu thấm dần (Osmosls) bằng cách cho HS "đắm chìm" trong môi trường các VĐ, được khích lệ giải toán với sự hỗ trợ của thầy và bạn, không bị sức ép bởi thời gian, không sợ thất bại, tự mình lựa chọn các giải pháp, các thủ thuật giải. - Kiểu ghi nhớ (Memorization), HS được dạy các thuật toán để giải quyết các loại VĐ về bài toán và ghi nhớ cách giải quyết đó.
Các thủ thuật này làm giảm mức độ khó khăn từ các "VĐ" xuống thành các "bài tập". - Kiểu hợp tác (Cooperation), HS được khuyến khích làm việc theo nhóm nhỏ để trao đổi những khó khăn gặp phải trong quá trình GQVĐ và học tập kinh nghiệm của bạn. - Kiểu phản ánh (Reflection), Papert cho rằng trẻ học bằng cách làm việc và phản ánh cái chúng làm, HS được khích lệ trình bày lại cách GQVĐ của mình. Trong DH phát hiện và GQVĐ: Giáo viên là người tạo ra tình huống có VĐ, tổ chức triển khai tình huống, gợi cho HS hướng đi, giúp đỡ HS thực hiện phương pháp học để đạt mục đích học tập đã đặt ra; HS là người tìm cách học, biết huy động kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm đã có, bằng nỗ lực của chính mình, tự phát hiện - GQVĐ, tự chiếm lĩnh tri thức và sắp xếp nó vào hệ thống kiến thức hiện có.
Trong đề tài này, chúng tôi thống nhất đưa ra quy trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề theo 4 bước sau: Bước 1: Tạo tình huống có vấn đề/ tìm hiểu vấn đề. Bước 2: Phát hiện vấn đề và định hướng GQVĐ. Bước 3: Tìm câu trả lời/ GQVĐ. Bước 4: Xác nhận và phát triển/ Phân tích và mở rộng.