Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm 1. Dân ca Trong kho tàng âm nhạc nhân loại có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa về dân ca, chúng ta khó có thể đưa ra được một khái niệm nào là cụ thể và chính xác nhất. Nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian Vi Hồng Nhân cho rằng “Dân ca là tiếng hát tâm tình của mọi lứa tuổi, là tâm hồn của dân tộc, một bộ phận dân ca còn là tiếng nói tâm linh của những cộng đồng dân cư nông nghiệp, nét đặc trưng chủ yếu làm nên bản sắc dân tộc” [23, tr.
Trong bài viết Khái quát chung về dân ca Việt Nam tác giả Lê Hồng Anh cũng đã nhận định rằng “Dân ca Việt Nam là một thể loại âm nhạc cổ truyền, qua việc truyền khẩu, truyền ngón các bài dân ca, mỗi người diễn xướng có quyền ứng tác tự do, góp phần sáng tạo của mình vào tác phẩm trong quá trình biểu diễn. Do vậy họ gần như là “đồng tác giả” với những người sáng tác mà người sáng tác ban đầu không rõ là ai” [46]. Để thuận lợi cho việc nghiên cứu, chúng tôi đưa ra một khái niệm về dân ca như sau: Dân ca là những bài hát do nhân dân sáng tác, được lưu truyền từ đời này sang đời khác thông qua hình thức truyền miệng, nó tồn tại ngay trong quá khứ, hiện tại và đến cả tương lai. Đó là những bài hát xuất phát từ cuộc sống lao động sản xuất của nhân dân, là tiếng hát tâm tình của mọi lứa tuổi, là tâm hồn của dân tộc, một bộ phận dân ca còn là tiếng nói tâm linh của những cộng đồng dân cư nông nghiệp.
Dân ca nói lên được tập tục sinh hoạt, phong cách và đặc điểm riêng của mỗi dân tộc ở các vùng miền bằng những câu ca mộc mạc, gần gũi, giản dị nhưng lại rất mượt mà và phong phú. Nói như nhà nghiên cứu về âm nhạc dân gian Phạm Phúc Minh thì “Các nốt nhạc trong dân ca ví như những chuỗi ngọc vô giá, muôn màu muôn sắc của tổ tiên ta đã sáng tạo ra và lưu truyền lại cho con cháu thời nay” [19, tr. 8 Vì vậy, dân ca luôn có một vị trí nhất định trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam, dù ở thời đại nào giá trị to lớn của nó đối với đời sống, xã hội của con người là không thể phủ nhận, đặc biệt là trong mối quan hệ giao lưu với các dân tộc khác trên thế giới. Đó là tài sản vô cùng qúy báu, tinh hoa sáng tạo nghệ thuật của bao thế hệ cha ông và cũng chính là cơ sở của sự phát triển văn hóa dân tộc trong xã hội đương đại.
Chính bản sắc văn hóa sẽ là “tấm thẻ căn cước” của mỗi dân tộc trong sự hội nhập, giao lưu với văn hoá các quốc gia trên thế giới. Hay như trong bài viết Âm nhạc truyền thống nhìn và nhận của PSG.TS Nguyễn Đăng Nghị đã nhấn mạnh “Âm nhạc dân tộc là một trong những thành tố kết dệt nên tấm thẻ căn cước của dân tộc trong công cuộc giao lưu văn hóa với các nước trên thế giới” [22, tr. Dân ca ở mỗi nước, mỗi dân tộc hay vùng miền đều có những nét riêng biệt, sự khác nhau này tùy thuộc vào môi trường sống, hoàn cảnh địa lý và đặc biệt là ngôn ngữ từng địa phương. Hát Sli, Lượn Dựa vào những công trình nghiên cứu đi trước như cuốn Âm nhạc dân gian một số dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam của nhóm tác giả Nông Thị Nhình và Hồng Thao; Lượn Tày của tác giả Hoàng Văn Páo; Âm nhạc Tày của tác giả Hoàng Tuấn, Lượn Slương của nhóm tác giả Phương Bằng - Lã Văn Lô …v.v cùng với quá trình nghiên cứu, điền dã của mình tác giả xin đưa ra đặc điểm về nguồn gốc và không gian diễn xướng trong hát Sli, Lượn của đồng bào các dân tộc Tày - Nùng tỉnh Lạng Sơn.
Hát Sli Hát Sli là một làn điệu dân ca đặc sắc trong kho tàng văn nghệ dân gian của đồng bào dân tộc Nùng ở Lạng Sơn. Hát Sli là thể loại dân ca phổ biến và độc đáo của người Nùng mà trong cuốn Sli, Lượn dân ca trữ tình Tày Nùng của Vi Hồng, tác giả đã cho rằng “Sli ở đây có nghĩa là thơ và người Nùng dùng từ 9 Sli để chỉ toàn bộ dân ca mang tính trữ tình của họ, cũng như người Tày, họ dùng từ Lượn để chỉ hầu như toàn bộ dân ca của mình” [8, tr. Theo thống kê vào năm 2014 của Cục thống kê tỉnh Lạng Sơn, có đến 44,2% là người dân tộc Nùng sinh sống lâu đời, một phần thuộc tầng lớp dân bản địa, một phần di cư từ Trung Quốc sang. Nùng nghĩa là “nồng”, xuất xứ là tên của một dòng họ, trong quá trình phát triển đã trở thành tên dân tộc.
Mỗi nhánh dân tộc Nùng khác nhau sẽ có làn điệu Sli không giống nhau như người Nùng Cháo có Sli Slình làng; người Nùng Giang có Sli giang; người Nùng Phàn slình có Sli Soong hàu hay còn gọi là Sli Phàn slình. Hát Sli ở Lạng Sơn chủ yếu có hai thể loại chính đó là Sli Slình làng của người Nùng Cháo và Sli Soong hàu của người Nùng Phàn slình. Trong đó, người Nùng Phàn slình ở Lạng Sơn được chia thành ba nhánh chính đó là người Nùng Phàn slình áo ngắn (Cúm cọt), người Nùng Phàn slình Hu Lài (Cao Lộc) và người Nùng Phàn slình áo dài (Bình Gia). Các điệu Sli của người Nùng thường được diễn xướng trong những ngày hội, phiên chợ, ngày cưới, tân gia… Dân tộc Nùng cất tiếng hát Sli cũng là cất lên tiếng hát ngợi ca tình yêu thương con người, thiên nhiên, xa hơn là gửi gắm vào đó tình yêu quê hương, đất nước.
Các lễ hội sinh hoạt văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc Nùng được phục hồi và duy trì đều đặn trong các sự kiện, lễ hội truyền thống như ngày mừng nhà mới, lễ cưới, ngày hội 22, 27 tháng Giêng, ngày thành lập tỉnh Lạng Sơn, ngày Quốc khánh 2/9 và các ngày hội Lồng Tồng của địa phương. Tại các nơi tụ hội, những người hát Sli lại hẹn hò nhau đến với hội để được bày tỏ tâm tình qua các làn điệu đằm thắm thiết tha; thế rồi cuối ngày hội, họ lại chia tay nhau trong lời hẹn sẽ lại gặp nhau tại phiên chợ sau để được chia sẻ qua làn điệu Sli. 10 Hát Sli có một ý nghĩa quan trọng, nó như một sợi dây vô hình kết nối giữa các nhóm người mà có thể chưa quen biết với nhau. Trong hát Sli, tư tưởng, tình cảm thường được thể hiện một cách thẳng thắn, bộc trực.
Có thể nhận thấy phong cách nghệ thuật biểu hiện sự mạnh mẽ và phóng khoáng của bản chất tâm hồn người dân tộc Nùng. Trong bài viết Phiên chợ tình độc đáo giữa thành phố Lạng Sơn của tác giả Nguyễn Duy Chiến khi được hỏi về cảm nhận của mình về không khí của buổi lễ hội, anh Hoàng Tiến (40 tuổi, dân tộc Nùng) cho biết: Đã thành thông lệ rồi, cứ ngày này là đội hát Sli chúng tôi ở Gia Cát, huyện Cao Lộc lại tụ tập tại thành phố Lạng Sơn để hát chọi với đám gái ở Vân Thủy, huyện Chi Lăng. Đã quen nhau 3 - 4 năm nay, thấu hiểu từng lời nói, câu hát nên không còn bỡ ngỡ nữa. Vợ tôi cũng theo đám hát trong làng đi Sli ở chợ Kỳ Lừa; còn tôi thì bảy tỏ tâm tình ở chân tượng đài đồng chí Hoàng Văn Thụ [47].
Cứ như vậy, đến hẹn lại lên tại công viên Hoàng Văn Thụ - đường Hùng Vương họ gặp nhau và trao cho nhau những câu hát Sli chân tình, mộc mạc. Họ đứng thành từng nhóm để hát, họ có thể hát cả buổi, hát cả ngày một cách thoải mái để rồi sau đó họ lại trở về với gia đình của mình và không hề có một chút tình ý gì với người mà họ trao tình qua những câu Sli trong buổi lễ hội. Hát Lượn Nói đến văn hóa người Tày không thể không nhắc tới thể loại dân ca tiêu biểu của dân tộc này đó là hát Lượn, đặc biệt là Lượn giao duyên. Dân tộc Tày thuộc nhóm ngữ hệ Tày - Thái.
Tày có nghĩa là bản địa, vì vậy trước đây người Tày còn được biết đến với cái tên “Thổ”. Có thể nói, từ xa xưa làn điệu Lượn đã trở nên gần gũi, quen thuộc và không thể thiếu trong các bản làng người Tày. Hát Lượn là một loại hình văn nghệ dân gian, đã từ lâu được 11 người Tày sử dụng như một ngôn ngữ giao tiếp trong cuộc sống và hòa mình với thế giới tự nhiên. Theo nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian Hoàng Văn Páo thì Lượn được hiểu theo hai nghĩa đó là nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Nếu theo nghĩa rộng, Lượn chỉ toàn bộ kho tàng dân ca người Tày; theo nghĩa hẹp, Lượn là những điệu hát giao duyên chỉ riêng của người Tày. Lượn Slương (Lượn lạng) là loại Lượn được lưu hành phổ biến và rộng rãi nhất ở Lạng Sơn. Lượn Slương biểu thị những lời yêu thương, chữ “slương” nghĩa là yêu thương. Nhạc sĩ Đỗ Minh, nhà nghiên cứu về âm nhạc dân gian Việt Bắc đã giải thích: gọi “Lượn Slương” vì nó là “tiếng hát của yêu thương”.
Lượn Slương được tổ chức hát trong ngày lễ hội Lồng Tồng mùa xuân, hay vào những đêm trăng sáng hoặc những lúc nông nhàn. Lượn Slương là loại Lượn phong phú nhất, có nhiều dị bản khác nhau và cuốn hút người nghe nhiều nhất, nó rất phổ biến và thích hợp cho những cuộc hát giao duyên bởi giai điệu nhẹ nhàng, du dương, bay bổng và lời ca ví von, bình dị. Có nhiều luồng ý kiến khác nhau khi nói về không gian diễn xướng của hát Lượn, trong cuốn Lượn Slương của nhóm tác giả Phương Bằng - Lã Văn Lô cho rằng: Đặc trưng hát xướng của Lượn Tày là ở tính công khai, Lượn Tày không hề diễn xướng giấu diếm mà bao giờ cũng tiến hành ngay trong nhà hấp dẫn cả già trẻ mến mộ đến nghe. Lượn Tày không bao giờ tiến hành ở ngoài đường, ngoài chợ như nhiều hình thức hát Sli Nùng.
Ở trên đường, ngoài chợ, trai gái Tày nếu có nhu cầu trao đổi tình cảm thì họ chỉ sử dụng cách Phuối Pác hay còn gọi là “Rọi ở đây là một lối nói có vần điệu khá hấp dẫn” [2, tr. 12 Theo nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian Nông Thị Nhình cho rằng hát Lượn của dân tộc Tày lại được diễn ra ở cả trong nhà và ngoài trời.