Dạy học kỹ năng và phương pháp dạy nghề theo phương pháp dựa trên vấn đề tại ĐHSPKT Vĩnh Long

Luận văn thạc sĩ tập trung vào phương pháp dạy học dựa trên vấn đề (PBL) áp dụng cho môn kỹ năng và phương pháp dạy nghề tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

135
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về dạy học dựa trên vấn đề trong giáo dục nghề

Phương pháp dạy học dựa trên vấn đề (Problem-Based Learning - PBL) là phương pháp giáo dục sáng tạo, lấy người học làm trung tâm. Phương pháp này sử dụng các vấn đề thực tế làm bối cảnh để sinh viên phát triển kỹ năng tư duy phản biện, giải quyết vấn đề và tự học. Tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, PBL được nghiên cứu áp dụng trong giảng dạy môn Kỹ năng và Phương pháp dạy nghề. Môn học này đòi hỏi sinh viên sư phạm kỹ thuật phải nắm vững cả kiến thức chuyên môn lẫn kỹ năng sư phạm nghề. PBL giúp sinh viên tiếp cận vấn đề thực tiễn trong dạy nghề, từ đó xây dựng năng lực sư phạm toàn diện. Tài liệu nghiên cứu của tác giả Trần Hữu Thi năm 2017 đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng PBL tại trường, đề xuất mô hình phù hợp với điều kiện đào tạo sư phạm kỹ thuật.

1.1. Khái niệm phương pháp dạy học dựa trên vấn đề

Phương pháp dạy học dựa trên vấn đề (PBL) được Barrows định nghĩa là phương pháp đào tạo sử dụng các vấn đề lâm sàng để phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề và kiến thức chuyên ngành. Đặc trưng cốt lõi của PBL gồm: người học là trung tâm, người dạy đóng vai trò facilitator, vấn đề là điểm xuất phát cho quá trình học tập. Từ thập niên 1980, PBL lan truyền rộng khắp thế giới với nhiều biến thể linh hoạt. Boud đã đề xuất 8 đặc trưng nền tảng của PBL, nhấn mạnh sự kết nối giữa lý thuyết và thực hành, vai trò hỗ trợ của giảng viên và quá trình tự đánh giá.

1.2. Đặc điểm môn Kỹ năng và Phương pháp dạy nghề

Môn Kỹ năng và Phương pháp dạy nghề thuộc chương trình đào tạo giáo viên dạy nghề tại các trường sư phạm kỹ thuật. Môn học trang bị cho sinh viên kỹ năng tổ chức hoạt động dạy nghề, phương pháp truyền đạt kiến thức thực hành và đánh giá kết quả học nghề. Đặc thù của môn học đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết sư phạm và thực hành nghề nghiệp. Người học cần phát triển đồng thời năng lực nghề và năng lực sư phạm. Việc áp dụng PBL trong môn học này giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống sư phạm thực tế tại các cơ sở dạy nghề.

II. Thực trạng dạy học môn kỹ năng và phương pháp dạy nghề

Thực trạng giảng dạy môn Kỹ năng và Phương pháp dạy nghề tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục. Phương pháp truyền thống chủ yếu dựa trên thuyết trình một chiều, sinh viên tiếp thu kiến thức thụ động. Nội dung bài học thiếu gắn kết với thực tiễn dạy nghề tại các cơ sở đào tạo. Giảng viên ít sử dụng tình huống thực tế để minh họa phương pháp dạy nghề. Sinh viên gặp khó khăn trong việc vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực hành sư phạm. Hoạt động nhóm chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo của người học. Đánh giá kết quả học tập tập trung vào kiểm tra kiến thức, chưa đo lường được kỹ năng sư phạm thực tế. Những hạn chế này đặt ra yêu cầu cấp thiết đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy người học làm trung tâm.

2.1. Hạn chế của phương pháp giảng dạy truyền thống

Phương pháp giảng dạy truyền thống trong môn Kỹ năng và Phương pháp dạy nghề tồn tại nhiều bất cập. Giảng viên đóng vai trò trung tâm, truyền đạt kiến thức theo hướng một chiều. Sinh viên ghi chép thụ động, thiếu cơ hội thảo luận và thực hành. Bài học thường tách rời thực tiễn dạy nghề, không phản ánh được các tình huống sư phạm phức tạp. Phương pháp này hạn chế phát triển kỹ năng tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề và khả năng sáng tạo của sinh viên. Kết quả đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu thực tế nghề dạy nghề.

2.2. Nhu cầu đổi mới trong đào tạo giáo viên dạy nghề

Đào tạo giáo viên dạy nghề trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi sự đổi mới toàn diện. Giáo viên dạy nghề cần thành thạo cả kỹ năng nghề lẫn phương pháp sư phạm hiện đại. Chương trình đào tạo phải trang bị khả năng thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và phương thức sản xuất. Sinh viên sư phạm kỹ thuật cần được rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề thực tế, làm việc nhóm và tự học suốt đời. Phương pháp PBL đáp ứng được yêu cầu này, giúp xây dựng năng lực sư phạm thực tiễn cho người học.

III. Giải pháp áp dụng PBL trong dạy học môn kỹ năng dạy nghề

Giải pháp áp dụng phương pháp dạy học dựa trên vấn đề trong môn Kỹ năng và Phương pháp dạy nghề được xây dựng trên cơ sở lý luận PBL và điều kiện thực tế tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long. Tiến trình PBL gồm 7 bước theo mô hình Busfield và Peijs: giải thích khái niệm, xác định vấn đề, phân tích giải thích, xây dựng giải pháp, xác định bài tập tự học, thực hiện bài tập, báo cáo đánh giá. Quá trình này kết hợp học tập cá nhân với học tập nhóm nhỏ, giúp sinh viên phát triển kỹ năng trình bày, lắng nghe và làm việc nhóm. Giảng viên chuyển vai trò từ người truyền đạt sang người hỗ trợ, hướng dẫn sinh viên tiếp cận và giải quyết vấn đề sư phạm thực tế. Đánh giá kết quả học tập bao gồm đánh giá của giảng viên, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau.

3.1. Thiết kế bài học theo tiến trình PBL bảy bước

Thiết kế bài học theo tiến trình PBL bảy bước bắt đầu bằng việc trình bày vấn đề sư phạm thực tế liên quan đến dạy nghề. Sinh viên xác định các khái niệm, thuật ngữ cần tìm hiểu. Nhóm thảo luận phân tích vấn đề, xây dựng danh sách giải pháp có hệ thống. Mỗi sinh viên nhận nhiệm vụ cá nhân tìm kiếm thông tin bổ sung. Sau thời gian tự học, nhóm họp lại chia sẻ kết quả và tổng hợp kiến thức. Cuối cùng, sinh viên báo cáo trước lớp và nhận phản hồi từ giảng viên cùng bạn học. Tiến trình này đảm bảo sự tham gia chủ động của người học.

3.2. Vai trò giảng viên và sinh viên trong mô hình PBL

Trong mô hình PBL, vai trò giảng viên và sinh viên thay đổi căn bản so với phương pháp truyền thống. Giảng viên đóng vai trò facilitator - người tạo điều kiện thuận lợi cho việc học, hướng dẫn và hỗ trợ khi sinh viên gặp khó khăn. Giảng viên thiết kế các vấn đề sư phạm thực tế, đặt câu hỏi gợi mở và đánh giá quá trình học tập. Sinh viên là trung tâm của hoạt động học, chủ động tìm kiếm thông tin, phân tích vấn đề và xây dựng giải pháp. Mối quan hệ thầy trò chuyển từ truyền thụ sang hợp tác cùng khám phá kiến thức.

IV. Kết luận và ứng dụng phương pháp PBL trong đào tạo sư phạm

Nghiên cứu về dạy học môn Kỹ năng và Phương pháp dạy nghề theo phương pháp PBL tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long cho kết quả tích cực. Phương pháp PBL phát huy tính chủ động, sáng tạo của sinh viên sư phạm kỹ thuật. Sinh viên được rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề thực tế trong dạy nghề, kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng tự học. Kết quả nghiên cứu đề xuất mô hình PBL phù hợp với điều kiện đào tạo tại trường, bao gồm thiết kế bài học, tiến trình tổ chức hoạt động và hệ thống đánh giá. Mô hình này có thể mở rộng áp dụng cho các môn học khác trong chương trình đào tạo giáo viên dạy nghề. Việc triển khai PBL đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng về tài liệu, cơ sở vật chất và năng lực giảng viên. Hướng phát triển tiếp theo là nghiên cứu đánh giá hiệu quả lâu dài của PBL đối với năng lực nghề nghiệp của giáo viên dạy nghề sau khi tốt nghiệp.

4.1. Kết quả đạt được từ nghiên cứu áp dụng PBL

Kết quả nghiên cứu áp dụng PBL trong dạy học môn Kỹ năng và Phương pháp dạy nghề cho thấy sự tiến bộ rõ rệt của sinh viên. Khả năng tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề sư phạm được cải thiện đáng kể. Sinh viên thể hiện sự chủ động trong tìm kiếm thông tin và xây dựng kiến thức. Kỹ năng làm việc nhóm, trình bày và giao tiếp được phát huy hiệu quả. Kiến thức sư phạm được tiếp cận sâu hơn thông qua phân tích tình huống thực tế. Đánh giá từ giảng viên và sinh viên đều phản ánh sự hài lòng với phương pháp mới.

4.2. Hướng phát triển và mở rộng mô hình PBL

Hướng phát triển mô hình PBL tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long bao gồm nhiều hoạt động trọng tâm. Cần xây dựng ngân hàng vấn đề sư phạm phong phú, đa dạng theo từng chuyên đề dạy nghề. Đội ngũ giảng viên cần được bồi dưỡng kỹ năng thiết kế và tổ chức dạy học PBL. Cơ sở vật chất, phòng học nhóm và thư viện số cần được đầu tư đáp ứng yêu cầu. Nghiên cứu đánh giá tác động dài hạn của PBL đến chất lượng đào tạo giáo viên dạy nghề cần được tiến hành. Mô hình có tiềm năng áp dụng rộng rãi trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ dạy học môn kỹ năng và phương pháp dạy nghề theo phương pháp dạy học dựa trên vấn đề tại trường đại học sư phạm kỹ thuật vĩnh long

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giáo dục và đào tạo là yếu tố quyết định chất lƣợng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lƣợng cao. Trong kết luận số 51-KL/TW ngày 29/10/2012 Hội nghị lần thứ sáu khóa XI về Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Đảng đã định hƣớng “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo bao gồm: đổi mới tƣ duy; đổi mới mục tiêu đào tạo; hệ thống tổ chức, loại hình giáo dục và đào tạo; nội dung, phƣơng pháp dạy và học; cơ chế quản lý; xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý; cơ sở vật chất, nguồn lực, điều kiện bảo đảm…, trong toàn hệ thống…” [1]. Để triển khai thực hiện kết luận trên, Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành Quyết định số 1215/QĐ-BGDĐT ngày 04 tháng 4 năm 2013 của Bộ trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Trong chƣơng trình hành động này, “Đổi mới nội dung, phƣơng pháp dạy học, thi, kiểm tra và đánh giá chất lƣợng giáo dục”[2] là một trong những nhiệm vụ chủ yếu. Nhƣ vậy, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách quan và cấp bách của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay. Trƣờng Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Vĩnh Long với chức năng đào tạo đội ngũ giáo viên sƣ phạm kỹ thuật, cung cấp nguồn nhân lực cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Trong những năm qua, nhà trƣờng đã gặt hái đƣợc nhiều thành tựu, tiếp cận đƣợc sự tiến bộ của khoa học giáo dục, cập nhật những định hƣớng và quan điểm mới trong quá trình đào tạo GVDN, đào tạo đƣợc nguồn nhân lực đáp ứng đƣợc một phần yêu cầu và nhiệm vụ đƣợc giao.

Tuy nhiên, để đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới dạy nghề, chất lƣợng đội ngũ GVDN trƣờng đào tạo còn bộc lộ nhiều hạn chế yếu kém trong đó có nghiệp vụ sƣ phạm, đòi hỏi nhà trƣờng phải đổi mới quá trình đào tạo GVDN. Những hạn chế yếu kém có nguyên nhân khách quan nhƣng nguyên nhân chủ quan là do chậm đổi mới nội dung, chƣơng trình đào tạo; phƣơng thức và phƣơng pháp tổ chức đào tạo chƣa thực sự phát huy đƣợc tính chủ động, sáng tạo 1 của sinh viên, phƣơng pháp và hình thức đánh giá kết quả chƣa phù hợp. Đứng trƣớc bối cảnh chung của nền giáo dục Việt Nam, nhà trƣờng cũng đã bắt tay vào việc nghiên cứu đổi mới quá trình đào tạo tại trƣờng, một trong các vấn đề nhà trƣờng quan tâm là nâng cao chất lƣợng đào tạo lên tầm cao mới theo hƣớng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngƣời học; ngƣời học phải thật sự làm chủ đƣợc tri thức; vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức, kỹ năng trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Trong chƣơng trình Sƣ phạm dạy nghề, môn học Kỹ năng và phƣơng pháp dạy nghề là một bộ phận của bộ môn Lý luận dạy học, nhằm hình thành cho ngƣời học các kiến thức khoa học về lý luận thiết kế dạy học, kỹ năng dạy học nghề, phƣơng pháp dạy nghề và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của ngƣời học, đồng thời là những định hƣớng để ngƣời học thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ dạy học sau này.

Tuy nhiên trong những năm qua, việc tổ chức dạy học môn học KN - PPDN tại trƣờng đã bộc lộ những hạn chế thể hiện ở chỗ còn một số sinh viên chƣa hình thành đƣợc những kỹ năng đứng lớp cơ bản, thiết kế các bài học - giáo án tích hợp chƣa đạt yêu cầu, nhất là những hạn chế trong việc vận dụng các phƣơng pháp dạy học để hƣớng dẫn ngƣời học nghề giải quyết các tình huống nghề nghiệp nhất định theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề đặt ra. Trong hệ thống giáo dục và đào tạo, giáo viên đóng vai trò quyết định trực tiếp đến chất lƣợng đào tạo, là một trong những giải pháp trọng tâm quyết định đến sự phát triển và nâng cao chất lƣợng giáo dục. Chính vì vậy, muốn nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, trƣớc hết phải nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo nói chung. Với xu thế đổi mới của nền giáo dục Việt Nam và định hƣớng nâng cao chất lƣợng đào tạo ở nhà trƣờng cùng với thực tiễn dạy học môn KN-PPDN trong những năm qua tại trƣờng, tác giả nhận thấy cần có sự đổi mới trong cách vận dụng phƣơng pháp dạy học môn học gắn liền với nhu cầu của ngƣời học và mang tính thực tiễn nhiều hơn.

Vì thế, tác giả xin thực hiện đề tài “Dạy học môn Kỹ năng và phương pháp dạy nghề theo phương pháp dạy học dựa trên vấn đề tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long”. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định thực trạng và đề xuất biện pháp tổ chức dạy học môn KN-PPDN theo phƣơng pháp dạy học dựa trên vấn đề. - Triển khai dạy học môn KN-PPDN theo phƣơng pháp dạy học dựa trên vấn đề. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3.

Khách thể nghiên cứu Hoạt động dạy học môn Kỹ năng và phƣơng pháp dạy nghề. Đối tượng nghiên cứu Phƣơng pháp dạy học môn Kỹ năng và phƣơng pháp dạy nghề theo phƣơng pháp dạy học dựa trên vấn đề. Nhiệm vụ nghiên cứu 1). Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc triển khai dạy học môn KN-PPDN theo phƣơng pháp dạy học dựa trên vấn đề.

Khảo sát thực trạng việc dạy học môn Kỹ năng và phƣơng pháp dạy nghề tại trƣờng ĐHSPKT Vĩnh Long. Thực nghiệm và đánh giá dạy học các bài dạy theo phƣơng pháp dạy học dựa trên vấn đề cho môn Kỹ năng và phƣơng pháp dạy nghề. Giới hạn đề tài Trong giới hạn thời gian nghiên cứu của đề tài, tác giả: 1). Tập trung nghiên cứu thành tố phƣơng pháp dạy học trong quá trình dạy học môn KN-PPDN.

Thực nghiệm dạy học các chủ đề theo phƣơng pháp dạy học dựa trên vấn đề với 70% thời lƣợng của môn học KN-PPDN. Giả thuyết nghiên cứu Việc tổ chức dạy học môn KN-PPDN hiệu quả chƣa cao cho nên nếu dạy học theo phƣơng pháp dạy học dựa trên vấn đề với phƣơng án do ngƣời nghiên cứu đề xuất thì sẽ kích thích đƣợc sự thích thú và nâng cao kết quả học tập của ngƣời học. Phƣơng pháp nghiên cứu 7.Phương pháp nghiên cứu lý luận (giải quyết nhiệm vụ 1,3) 3 Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu: Mục đích nghiên cứu tài liệu là nhằm tìm hiểu lịch sử nghiên cứu, kế thừa thành tựu của các đồng nghiệp đi trƣớc. Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để thu thập các thông tin về lịch sử của vấn đề nghiên cứu, tình hình tổ chức giảng dạy theo phƣơng pháp dạy học dựa trên vấn đề trong và ngoài nƣớc, các lý thuyết học tập, các quan điểm dạy học, cơ sở khoa học của phƣơng pháp dạy học dựa trên vấn đề, các công trình nghiên cứu khoa học giáo dục liên quan đến phƣơng pháp dạy học dựa trên vấn đề và đặc trƣng của môn học Kỹ năng - phƣơng pháp dạy nghề.

Phƣơng pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết là phƣơng pháp cụ thể của phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu. Phân tích và tổng hợp lý thuyết là phƣơng pháp cho phép ta xây dựng lại cấu trúc của các vấn đề nghiên cứu, tìm đƣợc các mặt, các vấn đề khác nhau, các quá trình khác nhau của thực tiễn giáo dục. Con đƣờng phân tích tổng hợp cho phép nhận thức nội dung khách quan, xu hƣớng khách quan trong hình thức chủ quan của hoạt động sƣ phạm. Từ đây tiến hành suy diễn hình thành khái niệm, tạo thành hệ thống các phạm trù, cho phép xây dựng giả thuyết, tiến tới tạo thành các lý thuyết khoa học mới.

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7. Phương pháp điều tra (giải quyết nhiệm vụ 2) Điều tra là phƣơng pháp nghiên cứu xã hội học, đƣợc dùng để khảo sát một số lƣợng lớn đối tƣợng nghiên cứu ở một hay nhiều khu vực, vào một hay nhiều thời điểm nhằm thu thập rộng rãi các số liệu để từ đó phát hiện các vấn đề cần giải quyết, xác định tính phổ biến nguyên nhân để chuẩn bị cho các bƣớc nghiên cứu tiếp theo. Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng nhằm thu thập thông tin về thực trạng hoạt động học tập của SV khóa 2013, thực trạng tổ chức dạy học môn Kỹ năng và phƣơng pháp dạy nghề của GV tại trƣờng ĐHSPKT Vĩnh Long. Phương pháp quan sát sư phạm (giải quyết nhiệm vụ 3) Quan sát sƣ phạm là phƣơng pháp thu thập thông tin về quá trình giáo dục và dạy học trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động sƣ phạm, cho ta những tài liệu sống động về thực tiễn giáo dục để có thể khái quát về đặc điểm, bản chất, quy luật 4 của hoạt động giáo dục nhằm chỉ đạo tổ chức các hoạt động giáo dục tốt hơn.

Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để thu thập thông tin về hiệu quả vận dụng phƣơng pháp dạy học dựa trên vấn đề trong dạy học môn KN - PPDN thông qua quan sát ngƣời học ở hai lớp thực nghiệm và đối chứng. Phương pháp thực nghiệm sư phạm (giải quyết nhiệm vụ 3) Thực nghiệm giảng dạy môn KN-PPDN theo phƣơng pháp dạy học dựa trên vấn đề giữa lớp đối chứng và lớp thực nghiệm do GV trƣờng ĐHSPKT Vĩnh Long thực hiện. Thông qua các bài kiểm tra, so sánh, đánh giá kết quả học tập giữa lớp thực nghiệm với lớp đối chứng. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động Phƣơng pháp này đƣợc dùng để phân tích sản phẩm thực hiện các nhiệm vụ học tập của sinh viên khi dạy học môn KN-PPDN theo phƣơng pháp dạy học dựa trên vấn đề.

Phương pháp thống kê toán học Sử dụng phần mềm thống kê toán học SPSS, Microsoft Excel để xử lý thông tin thu thập đƣợc qua điều tra, phỏng vấn. Sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả và thống kê kiểm định để trình bày kết quả thực nghiệm sƣ phạm, kiểm định giả thuyết thống kê về sự khác biệt trong kết quả học tập của lớp đối chứng và lớp thực nghiệm. 5 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC MÔN KỸ NĂNG - PHƢƠNG PHÁP DẠY NGHỀ THEO PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰA TRÊN VẤN ĐỀ Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KỸ THUẬT 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1.

Các công trình nghiên cứu ngoài nước So với những phƣơng pháp dạy học khác thì PBL đƣợc biết đến trễ hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ