Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn. Chương 2: Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức về “Hệ Mặt trời” môn KHTN lớp 8 theo định hƣớng giáo dục STEM. Chương 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Lịch sử vấn đề nghiên cứu về giáo dục STEM 1. Nghiên cứu về giáo dục theo định hướng STEM tại Việt Nam Tại Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận giáo dục STEM nhƣ sau: - TS. Nguyễn Thanh Nga (chủ biên), TS. Phùng Việt Hải, TS.
Nguyễn Quang Linh, TS. Hoàng Phƣớc Muội, Thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề STEM cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông (2018) đã trình bày một số cơ sở lý luận về giáo dục STEM và tiến trình tổ chức các chủ đề giáo dục STEM theo định hƣớng phát triển năng lực sáng tạo và định hƣớng nghề nghiệp cho HS. ên cạnh đó, sách cung cấp 15 chủ đề STEM định hƣớng phát triển năng lực sáng tạo và 05 ngành nghề STEM định hƣớng nghề nghiệp - đƣợc xây dựng theo các dự án học tập. Phần lớn các chủ đề trong sách đã đƣợc thực hiện ở các trƣờng trung học và đã đƣợc đánh giá về tính khả thi.
Phần lớn một số chủ đề đƣợc thực hiện dƣới hình thức ngoại khóa, bên cạnh đó là một số chủ đề đƣợc lồng ghép trong giờ học chính khóa của môn vật lí [15]. - Nguyễn Văn iên, Tƣởng Duy Hải trong cuốn Giáo dục STEM trong nhà trường phổ thông đã đƣa ra cơ sở khoa học của giáo dục STEM; quy trình xây dựng và tổ chức thực hiện giáo dục STEM ở trƣờng phổ thông; giáo dục STEM trong môn học và hoạt động giáo dục và một số chủ đề STEM cho các cấp học; một số quan điểm về giáo dục STEM; phân loại giáo dục STEM; các đặc trƣng của bài học STEM; dạy học phân hóa và giáo dục STEM; Đề xuất tiến trình dạy học STEM; Tiến trình thiết kế bài học STEM; đánh giá HS trong giờ học STEM,… Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn tập chung vào chủ đề dạy học STEM mà chƣa quan tâm tới dạy học theo hình thức bài - lớp nhƣ trong thực tế đang diễn ra [1]. - Nguyễn Quang Linh đã nghiên cứu về GD STEM trong nhiều chủ đề khác nhau nhƣ: Chƣơng trình dạy học chủ đề STEM cho giáo viên, thiết kế và tổ chức hoạt động trải nghiệm ở trƣờng phổ thông, phát triển tƣ duy phê phán của sinh viên thông qua chƣơng trình định hƣớng GD STEM tại Việt Nam, phát triển tƣ duy sáng tạo của sinh viên thông qua hoạt động định hƣớng STEM “Tôi là kỹ sư” trong lớp học và tổ 4 chức dạy học về môn khoa học theo định hƣớng GD STEM tại trƣờng THPT; Trong các bài báo đã trình bày đề xuất quy trình thiết kế bài học STEM, quy trình tổ chức giờ học STEM, đánh giá HS trong quá trình học tập và các kết quả thu đƣợc từ thực nghiệm [14]. Nguyễn Thanh Nga (chủ biên), Ths.
Hoàng Phƣớc Muội, TS. Phùng Việt Hải, TS. Nguyễn Quang Linh, Ths. Nguyễn Anh Dũng, Ths.
Ngô Trọng Tuệ (2018), Dạy học chủ đề STEM cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông, NXB Đại học Sƣ phạm TP Hồ Chí Minh đã trình bày các nội dung chính nhƣ: + Hƣớng dẫn xây dựng và vận hành phòng dạy học STEM trong trƣờng phổ thông. + Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh theo định hƣớng giáo dục STEM. + Xây dựng các giáo án minh hoạ để tổ chức dạy học theo định hƣớng giáo dục STEM trong giờ học chính khóa và ngoại khóa. Đặc biệt, minh hoạ xây dựng kế hoạch dạy học theo định hƣớng giáo dục STEM đối với một bài học trong chƣơng trình S K hiện hành với thời lƣợng 45 phút [17].
- Trong luận án nghiên cứu của Lê Xuân Quang (2017) về “Công nghệ phổ thông theo định hướng giáo d c STEM”. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Nhiều HS hiểu bài sâu sắc hơn, cảm thấy thoải mái hơn trong các giờ học bình thƣờng, góp phần phát triển năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo của HS, phù hợp với định hƣớng của D&ĐT trong công văn số 5555/ DĐT – GDTrH ngày 8/10/2014 về các tiêu chí đánh giá bài học đang đƣợc thực hiện trong cả nƣớc hiện nay [18]. - Trong luận văn tốt nghiệp của Lê Thanh Trúc (2017) về “Tổ chức dạy học một số kiến thức chương cơ sở của nhiệt động lực học - Vật lý 10 theo định hướng GD STEM”. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Học sinh đã phát huy đƣợc tính tích cực và năng lực sáng tạo, phát triển năng lực giải quyết vấn đề và rèn luyện một số kỹ năng cần thiết trong cuộc sống nhƣ kỹ năng làm việc nhóm, thu thập và xử lí thông tin, thuyết trình, phản biện… góp phần tạo đƣợc hứng thú học Vật lý của HS nhờ vận dụng các kiến thức hàn lâm vào thực tiễn, trực quan sinh động hơn.
Các phân tích thực nghiệm trên đã khẳng định tính khả thi của việc tổ chức dạy học chƣơng “Cơ sở của nhiệt động lực học - Vật lý 10” theo định hƣớng GD STEM trong việc đổi mới phƣơng pháp dạy học ở trƣờng phổ thông [24]. 5 - Nguyễn Thanh Nga, Phùng Việt Hải, Nguyễn Quang Linh,… trong các tài liệu [1], [9] và [15] đã trình bày những nghiên cứu của mình về giáo dục STEM một cách khá đầy đủ. Nhóm tác giả đã đƣa ra định nghĩa giáo dục STEM; mục tiêu giáo dục STEM; phân loại STEM; đề xuất đƣợc biện pháp phát triển năng lực của học sinh thông qua các hoạt động giáo dục STEM, đặc biệt là năng lực sáng tạo; các biểu hiện năng lực sáng tạo của học sinh nhƣ: (a) Tự lực phát hiện vấn đề mới, tình huống mới từ những tình huống quen liên quan đến ngành nghề kỹ thuật. (b) Nghiên cứu tổng quan các giải pháp kỹ thuật có sẵn, sau đó đƣa ra bình luận, lật đi lật lại vấn đề, trao đổi, chất vấn với các học sinh khác, với giáo viên, với chuyên gia,.
Từ đó đề xuất giải pháp kỹ thuật mới, tối ƣu trên cơ sở kế thừa các giải pháp kỹ thuật đã có. (c) Tự đề xuất đƣợc giải pháp kỹ thuật phù hợp đem lại hiệu quả cao mà không tham khảo các giải pháp đã có. (d) Tự truyền tải tri thức và kỹ năng từ lĩnh vực quen biết sang tình huống mới, vận dụng kiến thức đã học trong điều kiện mới, hoàn cảnh mới. (e) Chẳng hạn, từ những kiến thức quen thuộc là điện trƣờng, trọng lực mà học sinh đã đƣợc học, chuyển sang nghiên cứu hạn chế ô nhiễm bụi trên các tuyến đƣờng bằng phƣơng pháp lọc bụi tĩnh điện, phƣơng pháp trọng lực và quán tính.
(f) Nhìn thấy cấu trúc kỹ thuật, chức năng, bản chất của đối tƣợng kỹ thuật. Thực chất là bao quát nhanh chóng, đôi khi tức khắc, các bộ phận kỹ thuật, các yếu tố bản chất của đối tƣợng kỹ thuật trong mối tƣơng quan giữa chúng. (g) Đề xuất mô hình giả thuyết, đƣa ra phƣơng án thực nghiệm để kiểm tra giả thuyết hay hệ quả suy ra từ giả thuyết với hiệu quả cao nhất có thể đƣợc trong những điều kiện đã cho. (h) Tự thiết kế sơ đồ nguyên lý, bản vẽ kỹ thuật thể hiện cấu tạo, chức năng của đối tƣợng kỹ thuật đang nghiên cứu.
Nghiên cứu về giáo dục STEM ở nước CHDCND Lào Hiện nay chƣa có một công trình nghiên cứu chính thức nào tại Lào về GD STEM. Tuy nhiên, tại Lào đã có những triển khai nhất định về D STEM, nhƣ: 6 Keovivon UTTHACHAC (2016) - Phó vụ trƣởng Khoa học đã nói đến ý tƣởng về Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học là những điều mà ộ Khoa học và Công nghệ ( ộ KHCN) mong muốn tiến hành và xây dựng pham vi hợp tác với ộ iáo dục và Thể thao ( ộ DTT) để giao lƣu và thực hiện cùng một đối tƣợng có thể mang tính khả thi [25]. Trong tài liệu Luật khoa học và công nghệ của ộ KHCN Lào đã chỉ ra rằng: “Việc nâng cao trình độ của cán bộ và nhân viên là việc làm rất quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ nhƣ: Công nghiệp du lịch, công nghiệp điện tử, công nghiệp chế tạo và sản xuất thực phẩm. Để đáp ứng yêu cầu trên, ộ KHCN và ộ GDTT của nƣớc CHDCND Lào cần trao đổi, hợp tác với nhau để xây dựng đội ngũ lao động có trình độ, tay nghề để đáp ứng nhu cầu lao động trong và ngoài nƣớc.
Trong bài báo cáo của dự án nghiên cứu và phát triển chƣơng trình dạy học về công nghệ, sáng chế đã chỉ ra rằng: Hiện nay, Chính phủ của nƣớc CHDCND Lào đang đầu tƣ cho việc xây dựng chƣơng trình D STEM cho các trƣờng học, các cấp học. Thực sự, để triển khai GD STEM ở nƣớc CHDCND Lào cần có 2 yếu tố quan trọng đó là: Thúc đẩy xây dựng nguồn nhân lực chất lƣợng cao và khuyến khích nghiên cứu chế tạo sản phẩm mới có chất lƣợng cao. Bên cạnh đó, Sở Giáo dục phải xem lại một số chiến lƣợc và thay đổi phƣơng pháp giảng dạy từ bậc mầm non đến bậc đại học nhằm cho HS chủ động, tích cực học tập, phát triển đƣợc các kỹ năng cần thiết. Đồng thời trong quá trình dạy học phải tích hợp kiến thức Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học.
Các trƣờng học cao đẳng, trƣờng đại học cần phải hợp tác với các cơ quan, các công ty sản xuất, các đơn vị kinh doanh, doanh nghiệp… để xây dựng học tập từ nhà trƣờng đến nhà máy (Work-intergrated Learning: Wil), trao đổi và hợp tác nhau để rèn luyện sinh viên học tập qua hoạt động thực tiễn [29] [32] [33] [27]. Viện Nghiên cứu Khoa học iáo dục (Viện NK ) của Lào là đơn vị chính để nâng cấp nền Giáo dục Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học của đất nƣớc. Nhiệm vụ của Viện NK bây giờ vẫn còn thúc đẩy việc giảng dạy phù hợp với phƣơng pháp giáo dục STEM nhằm phát triển năng lực, tƣ duy, phân tích, giải quyết vấn đề, sáng tạo và nhận thấy sự quan trọng của việc học khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học [31] [26] [27]. 7 Để thực hiện triển khai chƣơng trình D STEM thì Viện NK đã hợp tác với Vụ Công nghệ và Sáng chế của ộ KHCN để tìm hiểu, nghiên cứu giáo dục STEM, thúc đẩy GV sử dụng phƣơng pháp dạy học theo định hƣớng GD STEM.