CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm hoạt động trải nghiệm 1.Khái niệm hoạt động học tập qua trải nghiệm Thuyết học tập trải nghiệm đưa ra quan điểm về quá trình học tập cơ bản khác với các lí thuyết về hành vi dựa trên thuyết tri thức duy nghiệm , những thuyết học tập ẩn dưới phương pháp giáo dục truyền thống, những phương pháp thuộc về ttri thức duy lí duy tâm. Những quan điểm này cùng với nững quan điểm khác về triển khai giáo dục đào tạo thành mối liên hệ chặt chẽ giữa học tập, lao động, các hoạt động khác trong cuộc sống và những sáng tạo kiến thức cho bản thân. Theo Kolb: Học từ trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm ([16]).Học từ kinh nghiệm là quá trình xây dựng ý nghĩa trực tiếp từ kinh nghiệm.
Học từ trải nghiệm (hoạt động trải nghiệm) luôn gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân. Thí dụ: học tập về thế giới động vật, thay vì học nó thông qua sách vở, học sinh được trải nghiệm thông qua quan sát và tương tác với các con vật ở sở thú; kết quả đạt được không chỉ là sự hiểu biết về loài thú mà còn là sự hình thành tình yêu đối với thiên nhiên và muông thú. Ngoài ra, có nhiều kiến thức con người chỉ có được từ trải nghiệm của riêng mình. Thí dụ, thật khó dạy hoặc khó có thể mô tả cho người khác về mùi hoa hồng là mùi như thế nào, thay vì nghe, trẻ được ngửi, được trải nghiệm với mùi hoa, trẻ sẽ có kinh nghiệm phân biệt về mùi hoa hồng với các mùi khác.
Lý thuyết “Học từ trải nghiệm” là cách tiếp cận về phương pháp học đối với các lĩnh vực nhận thức. Nếu như mục đích của việc học chủ yếu là hình thành và phát triển hệ thống tri thức khoa học, năng lực nhận thức và hành động có khoa học cho mỗi cá nhân thì mục đích của hoạt động giáo dục là hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, sự đam mê, các giá trị, kỹ năng sống và những năng lực chung khác cần có ở con người trong xã hội hiện đại. Để 11 phát triển sự hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vào nhận thức của trẻ; nhưng để phát triển và hình thành phẩm chất thì trẻ phải được trải nghiệm. Mô hình học tập trải nghiệm của Lewin Nghiên cứu ứng dụng và phương pháp thực nghiệm, học tập, thay đổi và phát triển được kết hợp thông qua là những liên kết bắt đầu với kinh nghiệm ở đây - và - bây giờ ( here - and - now) sau đó tổng hợp số liệu và cuối cùng quan sát về kinh nghiệm đó.
Số liệu đã thu thập sẽ được phân tích và các kết luận sau đó sẽ được phản hồi với đương sự của kinh nghiệm đó để họ điều chỉnh hành vi và lựa chọn kinh nghiệm mới. Học tập vì vậy được phân chia thành 4 giai đoạn trong chu trình. Mô hình học tập của Lewin được phân chia thành bốn giai đoạn trong chu trình, (xem hình trên). Kinh nghiệm rời rạc lúc đầu là cơ sở cho quan sát và phản tỉnh.
Những quan sát này đồng hóa trong một “học thuyết” từ đó ứng dụng mới 12 cho hành động này có thể được khơi nguồn. Những ứng dụng hay lý thuyết này đóng vai trò hướng dẫn trong việc thực hiện sáng tạo kinh nghiệm mới. Hai khía cạnh của mô hình học tập này đặc biệt có giá trị. Đầu tiên nhấn mạnh vào kinh nghiệm rời rạc ở đây - và - bây giờ để đánh giá và thử khái niệm trừu tượng.
Kinh nghiệm cá nhân tức là tiêu điểm của học tập, đưa cuộc sống, kết nối và ý nghĩa cá nhân chủ quan đến với khái niệm trừu tượng và cùng thời điểm cung cấp bằng chứng cụ thể được chia sẻ cộng đồng để đánh giá tính ứng dụng và giá trị của ý tưởng được sáng tạo trong quá trình học tập. Khi con người chia sẻ kinh nghiệm, họ có thể chia sẻ hoàn toàn cả những điều cụ thể và trừu tượng. Khía cạnh thứ hai, nghiên cứu ứng dụng và đào tạo thực nghiệm dựa trên quá trình phản hồi. Lewin đã mượn quá trình phản hồi từ ngành kĩ thuật điện tử để miêu tả một quá trình học tập xã hội và giải quyết vấn đề khái quát các thông tin có giá trị nhằm đánh giá sai lệch từ mục tiêu.
Phản hồi thông tin cung cấp cơ bản là một quá trình liên tục của các hành động và đánh giá hướng mục tiêu cũng như hiệu quả của hành động đó. Lewin và những người ủng hộ ông tin rằng tính không hiệu quả của cá nhân và tổ chức là do thiếu các quá trình phản hồi đầy đủ. Tính không hiệu quả này là kết quả của mất cân bằng giữa quan sát và hành động – hoặc xu hướng mà cá nhân, tổ chức tập trung vào quyết định và hành động ở mức độ thu thập thông tin, hoặc bị sa lầy vào thu thập thông tin và phân tích. Mục tiêu của phương pháp thực nghiệm và nghiên cứu ứng dụng là kết hợp hai quan điểm này thành một quá trình học tập theo hướng mục tiêu và hiệu quả.
Thật vậy, khi áp dụng mô hình của Lewin vào dạy giải toán có nội dung hình học 5, giai đoạn đầu là “ kinh nghiệm rời rạc”, giáo viên phải hướng cho học sinh huy động hết các kiến thức cũ có liên quan đến bài tập, kể cả kinh nghiệm của bản thân để làm tiếp giai đoạn tiếp theo là “Quan sát và phản tỉnh”. Ở giai đoạn này, học sinh phân tích đề bài, xác định những dữ liệu đã cho và yêu cầu bài tập, hướng giải quyết bài tập dựa trên những vốn kiến thức đã biết. Từ đây, sang giai đoạn tiếp theo là “ Hình thành khái niệm trừu tượng và khái quát hóa” chính là 13 học sinh lập các bước giải bài toán theo trình tự và thực hiện giải bài toán theo yêu cầu. Sau khi tự mình giải được một bài toán, học sinh có thể áp dụng cách giải đó vào các tình huống tương tự khác cũng chính là giai đoạn cuối cùng của quá trình trải nghiệm là “Thử áp dụng khái niệm vào tình huống mới”.
Ví dụ: Bài tập yêu cầu: Hãy chỉ ra cạnh đáy và đường cao trong tam giác sau. Giai đoạn “kinh nghiệm rời rạc”, học sinh chỉ có khái niệm về điểm, đoạn thẳng, hai đường thẳng vuông góc, cách vẽ hai đường thẳng vuông góc, … để áp dụng vào giai đoạn “quan sát và phân tích”. Tức là học sinh quan sát hình đã cho, xác định các đỉnh của tam giác. Từ một đỉnh bất kì, học sinh kẻ một đường thẳng đi qua đỉnh đó và hạ đường thẳng vuông góc với cạnh đối diện.
Sau khi làm xong thao tác đó, học sinh chuyển sang giai đoạn tiếp theo là “Hình thành khái niệm trừu tương và khái quát hóa”, nghĩa là học sinh biết được đoạn thẳng tính từ đỉnh hạ vuông góc với cạnh đối diện đó là đường cao của hình tam giác, cạnh đối diện mà đường cao hạ xuống vuông góc đó chính là cạnh đáy, khoảng cách từ đỉnh xuống cạnh đối diện là chiều cao của hình tam giác. Sau khi nắm vững được cách xác định này, học sinh chuyển sang giai đoạn cuối cùng là “Thử áp dụng khái niệm vào tình huống mới” tức là với bất kì đỉnh nào của tam giác, học sinh đều vẽ được đường cao của hình tam giác, xác định đúng đường cao, chiều cao, cạnh đáy của tất cả các dạng hình tam giác khác nhau. Đặc điểm của học tập trải nghiệm a) Học tập được tiếp nhận tốt nhất trong quá trình, không phải ở kết quả: Học tập được miêu tả như một quá trình mà khái niệm được rút ra, chỉnh sửa một cách liên tục thông qua kinh nghiệm. Không bao giờ chỉnh sửa ý tưởng và thói quen là kết quả kinh nghiệm không được thích nghi.
Theo Jerome Bruner, trong cuốn sách có ảnh hưởng của mình, Tiến tới học thuyết của giảng dạy (Toward a Theory of Instruction) đã chỉ ra rằng mục tiêu của giáo dục là thúc đẩy quá trình thắc mắc và kỹ năng trong quá trình tìm kiếm tri thức, không phải để nhớ bản thân tri thức: “tri thức là quá trình, không phải là sản phẩm” (Jerome Bruner, 1966:72). 14 b) Học tập là quá trình liên lục khởi nguồn từ kinh nghiệm: Sự thật về học tập là một quá trình liên tiến khởi nguồn từ kinh nghiệm là một ứng dụng quan trọng trong giáo dục. Đơn giản hơn, tất cả học tập là quá trình học lại. Mỗi người thâm nhập một bối cảnh học tập đã có trong đầu một số ý tưởng hay kinh nghiệm liên quan đến chủ đề sẽ học.
Điểm quan trọng là con người khi học sẽ có những niềm tin vào chất lượng của việc học cho đến khi họ sử dụng chúng vào bối cảnh để trở thành nhà vật lý nguyên tử, nhà nghiên cứu lịch sử, hay là bất kỳ ai. c) Quá trình học tập đòi hỏi giải pháp cho những xung đột về sự thích nghi của các phương thức đối lập biện chứng với thế giới: Tất cả các mô hình học tập trải nghiệm của Lewin, Dewey, Piaget đều chỉ ra rằng, việc học tập tự bản thân nó đã là một sức ép – và là quá trình đầy xung đột. Kiến thức mới, kỹ năng mới hay thái độ đều đạt được thông qua sự đối đầu giữa 4 phương thức học tập trải nghiệm. Người học, nếu thực sự phù hợp (effective), cần có 4 khả năng sau: Khả năng kinh nghiệm cụ thể (CE), khả năng quan sát phản tỉnh (RO), khả năng khái niệm hóa những thứ trừu tượng (AC) và khả năng thử nghiệm tích cực (active experimentation) (AE).
Từ đó, người học phải có khả năng kết hợp các kỹ năng một cách nhuần nhuyễn, cởi mở, và không có thành kiến (bias) trong các trải nghiệm mới (CE). Họ phải có khả năng phản tỉnh và quan sát trên các trải nghiệm mới từ nhiều quan điểm; tạo ra các khái niệm tích hợp những quan sát của họ vào các lý thuyết có căn cứ logic (AC), và họ phải có khả năng sử dụng những lý thuyết này để ra quyết định và giải quyết vấn đề (AE). d) Học tập bao gồm các tương tác giữa Con người và Môi trường: Trong học thuyết học tập qua trải nghiệm, mối quan hệ mang tính tương tác giữa con người và môi trường được biểu trưng hóa theo nghĩa đối ngẫu (dual) của thuật ngữ trải nghiệm – một mang tính chủ quan và cá nhân, đề cập tới phát ngôn bên trong của một người và một mang tính khách quan và môi trường ngoài.