phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các hình vẽ, bảng, các chữ viết tắt, tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về đào tạo nhân lực trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng đào tạo nhân lực tại Công ty Cổ phần Công nghệ Thƣơng mại và Dịch vụ Sức Sống Mới Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo nhân lực tại Công ty Cổ phần Công nghệ Thƣơng mại và Dịch vụ Sức Sống Mới. 11 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Đào tạo nhân lực và các khái niệm liên quan a.
Nhân lực Về cơ bản, nhân lực đƣợc định nghĩa là nguồn lực xuất phát từ trong chính bản thân của từng cá nhân con ngƣời. Nhân lực bao gồm thể lực, trí lực và gồm cả tinh thần. h ực: là sức khỏe của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng ngƣời, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con ngƣời phụ thuộc vào giới tính, thời gian công tác, độ tuổi….
í ực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng nhƣ quan điểm, lòng tin, nhân cách…của từng con ngƣời. Trong sản xuất kinh doanh chuyền thống, việc tận dụng các tiềm năng về thể lực của con ngƣời là không bao giờ thiếu, đã đƣợc khai thác triệt để. Sự khai thác tiềm năng trí lực của con ngƣời còn ở mức mới m , chƣa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn của con ngƣời. Đạo đức là một phạm trù thể hiện tƣ tƣởng, tình cảm, lối sống, thái độ và phong cách đối xử với đồng nghiệp trong tổ chức, với mọi ngƣời trong xã hội bao hàm cả quan niệm về nhân dân và về đất nƣớc mình.
Nguồn lực này ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể bên ngoài của con ngƣời. Cho đến một ngày, nguồn lực này đủ lớn, đáp ứng các điều kiện để con ngƣời có thể tham gia vào lao động, sản xuất. Chính vì điều đó, nhân lực tạo ra sự khác biệt so với các nguồn lực khác trong doanh nghiệp (nguồn vốn, công nghệ kỹ thuật, máy móc. 12 Tƣơng tự nhƣ vậy, tùy theo từng mục tiêu, lĩnh vực và cách tiếp cận vấn đề, khái niệm về nguồn nhân lực cũng đƣợc đề cập theo nhiều khái cạnh khác nhau.
Tuy nhiên, những quan điểm về nguồn nhân lực có những điểm chung nhƣ sau: Nguồn nhân lực của một tổ chức/ doanh nghiệp là tập hợp tất cả các cá nhân tham gia vào bất kỳ hoạt động nhằm đạt đƣợc các mục tiêu, mục đích của doanh nghiệp, tổ chức hƣớng tới. Mọi doanh nghiệp/ tổ chức đều đƣợc xây dựng và tồn tại dựa trên các cá thể hay còn gọi là nguồn nhân lực. Xét theo phƣơng diện chất lƣợng, vai trò và khả năng của con ngƣời đối với sự phát triển, tồn tại của xã hội, Liên hợp quốc (UN) đã đƣa ra một cách tiếp cận là nguồn nhân lực là tất cả trình độ lành nghề, kiến thức, kỹ năng và năng lực thực tế cùng những năng lực tồn tại dƣới dạng tiềm ẩn của cá nhân có liên quan đến sự phát triển xã hội. Trong lĩnh vực Ngân hàng, Ngân hàng thế giới (WB) nhìn nhận rằng: Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá thể.
Quan niệm này chỉ ra rõ, nguồn lực về con ngƣời là một nguồn tài nguyên đặc biệt, then chốt bên cạnh các nguồn vốn khác nhƣ nguồn vốn tiền tệ, công nghệ hay tài nguyên thiên nhiên, có khả năng sinh ra các nguồn lợi nhuận trong tƣơng lai, tạo ra của cải, vật chất, phát triển kinh tế, xã hội. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”. Nguồn nhân lực ở đây đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngƣời cho sự phát triển. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, nguồn lực cho phát triển kinh tế xã hội, gồm tất cả nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, hay đƣợc hiểu là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động 13 sản xuất, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của cá thể đƣợc huy động vào quá trình sản xuất.
Theo kinh tế chính trị chỉ ra: “Nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lƣợng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử đƣợc vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tƣơng lai của đất nƣớc”. Tác giả của cuốn Naked Economics, Charles Wheenlan, khẳng định: “tổng vốn nhân lực của một đất nƣớc sẽ quyết định mức độ thịnh vƣợng của xã hội đó chứ không phải tài nguyên thiên nhiên hay những thứ khác. Nhu cầu về vốn nhân lực ngày càng cao, quốc gia, doanh nghiệp nào có thể huy động và sử dụng nó sẽ là ngƣời chiến thắng”. Khái niệm nguồn nhân lực đƣợc sử dụng phổ biến để nêu vai trò và vị trí con ngƣời trong sự tồn tại và đi lên của kinh tế, xã hội.
Ở Việt Nam, khái niệm này đƣợc quan tâm nhiều hơn kể từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Thủ tƣớng Phan Văn Khải khẳng định trong buổi trao đổi với cán bộ lãnh đạo thành phố Hà Nội : “Nguồn nhân lực con ngƣời bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta” Từ các lý luận trên, ta thấy, dù khái niệm nguồn nhân lực đƣợc xem xét theo nhiều khía cạnh khác nhau nhƣng quan điểm nguồn nhân lực đƣợc thống nhất với nội dung cơ bản : sự tổng hợp của các cá nhân, con ngƣời cụ thể, cung cấp sức lao động cho xã hội. Trên tấm bia Tiến sĩ đầu tiên dựng tại Văn Miếu Quốc Tử Giám ghi lại lịch sử khoa thi năm 1442, Tiến sĩ triều Lê, Thân Nhân Trung, căn dặn rằng: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Mác cho rằng, con ngƣời là yếu tố số một của lực lƣợng sản xuất.
Nhà tƣơng lai học ngƣời Mỹ, Alvin Toffler nhấn mạnh vai trò của lao động trí thức: “Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền 14 lực rồi sẽ mất; chỉ có trí tuệ của con ngƣời thì khi sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên”. Giữa nguồn lực con ngƣời, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất - kỹ thuật, khoa học - công nghệ,. có mối quan hệ nhân - quả với nhau, nhƣng trong đó nguồn nhân lực đƣợc xem là năng lực nội sinh chi phối các nguồn lực khác và quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ƣu thế nổi bật là không bị cạn kiệt nếu biết bồi dƣỡng, khai thác và sử dụng hợp lý; còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố hữu hạn và chỉ phát huy đƣợc tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả.
Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác; trong đó nguồn nhân lực chất lƣợng cao quyết định quá trình tăng trƣởng và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức và trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lƣợng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định. Các lý thuyết tăng trƣởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trƣởng nhanh và ở mức cao đều phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực. Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trƣởng kinh tế bền vững chính là con ngƣời, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lƣợng cao, tức là những ngƣời đƣợc đầu tƣ phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành “nguồn vốn - vốn con ngƣời, vốn nhân lực”.
Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia có nguồn nhân lực chất lƣợng cao, có môi trƣờng pháp lý thuận lợi cho đầu tƣ và một môi trƣờng chính trị - xã hội ổn định. 15 Con ngƣời là yếu tố cấu thành lực lƣợng sản xuất giữ vị trí quan trọng và là duy nhất không thể thay thế, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực dồi dào không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế xã hội. Nguồn lực này không chỉ đánh giá cơ bản dƣới góc độ số lƣợng hay chất lƣợng mà còn đƣợc khẳng định thông qua sự tổng hợp của cả bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, các thế hệ con ngƣời với những tiềm năng, sức mạnh trong xây dựng tự nhiên, cải tạo xã hội. Chính vì vậy, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực là một chiến lƣợc lâu dài và đúng đắn đối với các doanh nghiệp, điều đó tác động không nhỏ vào doanh thu lợi nhuận của doanh nghiệp đƣợc thể hiện thông qua những chỉ số kinh doanh, bộ máy sản xuất hoạt động tốt, tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong mỗi tổ chức, mối quan hệ giữa chi phí lao động với hiệu quả của lao động là thƣớc đo đánh giá chất lƣợng lao động. Đào tạo nhân lực Giống nhƣ các cách tiếp cận về quan niệm nhân lực, đàotạo nhân lực cũng có các cách tiếp cận đa dạng và khác nhau: Ở Việt Nam, có sự so sánh và phân biệt khái niệm đào tạo và bồi dƣỡng. Theo thực tế, bồi dƣỡng là một cách thức đào tạo trong thời gian ngắn hạn với mục tiêu nâng cao kiến thức, kỹ năng của ngƣời học để họ cập nhật kiến thức, nâng cao tay nghề đáp ứng đƣợc yêu cầu của công việc.