MỞ ĐẦU Nƣớc uống đóng chai, đóng bình là một sản phẩm đƣợc sử dụng phổ biến trong cuộc sống hàng ngày. Ta có thể dễ dàng bắt gặp các sản phẩm nƣớc uống đóng chai, đóng bình ở khắp mọi nơi, từ gia đình, trƣờng học, cơ quan hay các nhà hàng. do nhu cầu sử dụng của ngƣời dân và sự tiện lợi của những sản phẩm này nên thị trƣờng xuất hiện ngày càng nhiều thƣơng hiệu nƣớc uống đóng chai khác nhau. Hiện nay, Bộ Y tế đã có các bộ quy chuẩn khá chặt chẽ về chất lƣợng nƣớc uống đóng chai, đóng bình.
Tuy nhiên, một số cơ sở sản xuất vì nhiều lí do đã không tuân thủ quy trình sản xuất cho nên tình trạng ô nhiễm vi sinh vật trong nƣớc uống đóng chai còn khá cao, đặc biệt là Pseudomonas aeruginosa (P. aeruginosa đƣợc biết đến là vi khuẩn nhiễm trùng cơ hội đối với những ngƣời có sức đề kháng kém. Nhiễm trùng do P. aeruginosa gây ra điển hình là nhiễm trùng da (nhiễm trùng vết thƣơng, vết bỏng…), nhiễm trùng đƣờng hô hấp (viêm phổi, viêm phế quản…), nhiễm trùng đƣờng tiểu và nặng hơn là gây nhiễm trùng huyết.
Nếu vi khuẩn xâm nhập vào các cơ quan trong cơ thể nhƣ phổi, đƣờng tiết niệu, thận, sẽ gây ra những hậu quả nặng nề vì vi khuẩn này có khả năng phát triển trên các niêm mạc bên trong cơ thể [2],[3],[4]. aeruginosa còn có khả năng kháng lại nhiều loại kháng sinh. Việc sử dụng kháng sinh không đúng cách trong cộng đồng và chƣa hợp lý trong bệnh viện đã dẫn đến mức độ kháng kháng sinh của vi khuẩn nói chung và P. aeruginosa nói riêng ngày một tăng cao.
Nhiều phác đồ điều trị kháng sinh đã bị thất bại do quá trình thích nghi và kháng lại kháng sinh của vi khuẩn. Tháng 2/2017, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã công bố danh sách gồm 12 nhóm vi khuẩn nguy hiểm cần nhanh chóng nghiên cứu các loại thuốc kháng sinh mới để đối phó, vì chúng là những vi khuẩn đa kháng, có khả năng đề kháng mạnh các liệu pháp điều trị hiện nay. aeruginosa 5 đƣợc WHO xếp vào nhóm 1, nhóm đặc biệt nguy hiểm vì vi khuẩn này có khả năng kháng với carbapenem, kháng sinh đạt hiệu quả cao nhất trong điều trị vi khuẩn kháng thuốc [5]. Chƣa có nhiều bằng chứng về khả năng nƣớc uống là nguồn gây nhiễm P.
aeruginosa đối với cộng đồng. Tuy nhiên sự hiện diện của P. aeruginosa trong nƣớc uống đóng chai, đóng bình chứng tỏ mẫu nƣớc đó chƣa đƣợc tiệt trùng thích hợp, hoặc sự nhiễm bẩn từ đƣờng ống, thiết bị lọc hay từ chai, bình chứa không đƣợc rửa sạch, hong khô, tiệt khuẩn đúng thời gian quy định hoặc do quá trình bảo quản sau lọc không tốt. Việc đánh giá tình hình vệ sinh nƣớc uống và mức độ nhạy cảm với kháng sinh của P.
aeruginosa trong nƣớc uống là việc làm rất cần thiết, nhằm mục đích phòng ngừa sự lan truyền của vi khuẩn này qua đƣờng uống; cảnh báo về việc sử dụng tràn lan nƣớc uống không hợp vệ sinh của ngƣời dân, đồng thời khuyến cáo việc sử dụng kháng sinh một cách hợp lý, hiệu quả. Trƣớc yêu cầu của thực tiễn, tôi thực hiện đề tài “Đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn Pseudomonas aeruginosa trong nƣớc uống đóng bình loại 19,5 lít” với đối tƣợng nghiên cứu là các mẫu nƣớc đƣợc thu tại địa bàn quận Thanh Xuân, Hà Nội với các mục tiêu nhƣ sau: - Định lƣợng P. aeruginosa trong nƣớc uống đóng bình loại 19,5 lít tại khu vực quận Thanh Xuân, Hà Nội và định danh vi khuẩn phân lập đƣợc. - Đánh giá mức độ kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn P.
aeruginosa phân lập đƣợc. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ VI KHUẨN PSEUDOMONAS AERUGINOSA Vi khuẩn P. aeruginosa trƣớc đây đƣợc gọi là Bacterium aeruginosa do Schroeter mô tả vào năm 1872.
Đến năm 1900, Migula chuyển chúng sang giống Pseudomonas và từ đó vi khuẩn mang tên Pseudomonas aeruginosa (Pseudo là tiếng Hy Lạp có nghĩa “giả”; monas trong tiếng Hy Lạp nghĩa là “đơn vị”; aeruginosa nghĩa là “gỉ đồng”). Ở Việt Nam thƣờng đƣợc gọi là trực khuẩn mủ xanh [6]. aeruginosa có khả năng tạo thành các khuẩn lạc có sắc tố màu lục và sinh sắc tố huỳnh quang ở 42oC, vi khuẩn còn sinh mùi thơm đặc trƣng (giống nhƣ nho chín), điều này giúp cho việc nhận biết vi khuẩn này trên môi trƣờng rắn trong phòng thí nghiệm [7]. aeruginosa là vi khuẩn Gram âm, hiếu khí, hình que, di động, không tạo bào tử, có khả năng oxy hóa các chất chống oxy hóa.
aeruginosa là một thành viên của chi Pseudomonas, thông thƣờng đƣợc gọi là pseudomonads. Vi khuẩn có thể sinh các sắc tố hòa tan trong nƣớc pyocyanin và pyoverdin, làm cho các khuẩn lạc P. aeruginosa có màu xanh lam đặc trƣng trên môi trƣờng rắn. aeruginosa có khả năng sinh tổng hợp indophenol oxyase, một loại enzyme làm cho vi khuẩn dƣơng tính trong xét nghiệm oxidase, giúp phân biệt chúng với các vi khuẩn Gram âm khác.
Sự có mặt của flagella và pili tại hai đầu cực tế bào giúp vi khuẩn có khả năng di động mạnh. Giống nhƣ một số loại vi khuẩn khác, P. aeruginosa có khả năng hình thành màng sinh học, tồn tại trong các mô và thiết bị y tế của con ngƣời. Việc vi khuẩn liên kết với nhau tạo thành màng sinh học giúp vi khuẩn chống lại một cách khá hiệu quả sự tiêu diệt của các kháng thể và thực bào của sinh vật chủ, điều đó góp phần giúp vi khuẩn này tăng khả năng đề kháng với các kháng sinh 7 trong quá trình điều trị.
aeruginosa phát triển mạnh trong môi trƣờng ẩm ƣớt nhƣ đất và nƣớc. Nó có thể đƣợc tìm thấy với số lƣợng lớn trên trái cây và rau quả tƣơi. Xâm nhập cơ thể ngƣời bắt đầu từ đƣờng tiêu hóa, sau đó có thể di chuyển đến các vị trí da ẩm nhƣ vùng mông, bẹn và nách…[8]. aeruginosa có mặt phổ biến trong tự nhiên.
Nó có thể đƣợc tìm thấy trong môi trƣờng nƣớc ngọt (suối, hồ và sông), cũng nhƣ bồn rửa, vòi hoa sen, thiết bị hô hấp, thậm chí trong nƣớc cất [9]. Nó đƣợc tìm thấy trong đất, nƣớc, hệ vi sinh vật trên da và đặc biệt khá phổ biến trong các bệnh viện. Chúng là loại vi khuẩn gây bệnh có điều kiện nhƣ khi cơ thể suy giảm miễn dịch, bị bệnh ác tính hoặc mãn tính, khi dùng corticoid kéo dài, việc sử dụng kháng sinh tùy tiện, việc sử dụng các dụng cụ thăm khám không đảm bảo vô khuẩn hoặc các vết bỏng, các vết thƣơng hở… [8]. aeruginosa là một trong những mầm bệnh cơ hội quan trọng nhất liên quan đến nhiễm trùng bệnh viện trên toàn thế giới.
aeruginosa có thể tồn tại trong nhiều điều kiện. Ổ chứa vi khuẩn thƣờng liên quan đến nhiễm trùng nhƣ thiết bị y tế, môi trƣờng bị ô nhiễm (bồn rửa, vòi, v.), nƣớc đóng chai bị ô nhiễm…[10], [11]. Trong những năm gần đây, P. aeruginosa là một trong những căn nguyên gây bệnh rất phổ biến và kháng lại nhiều kháng sinh hiện đang đƣợc sử dụng.
Vì vậy, nó thu hút rất nhiều đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học và các y bác sĩ trong nƣớc cũng nhƣ ngoài nƣớc. - Nghiên cứu nhiễm khuẩn huyết bỏng do P. aeruginosa gây ra tại Viện Bỏng Quốc gia (6/1996 - 12/1998) đã cho thấy P. aeruginosa là vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết bỏng hàng đầu (chiếm khoảng 66,7%) [12].
- Năm 2002, Chu Anh Tuấn, Nguyễn Văn Huệ, Lê Đức Mẫn nghiên cứu căn nguyên gây nhiễm khuẩn huyết và yếu tố bệnh lý liên quan tại Viện Bỏng Quốc gia đã cho thấy P. aeruginosa là căn nguyên gây nhiễm hàng đầu 8 (74,3%) [4]. - Năm 2003, Lê Đăng Hà, Nguyễn Đức Hiền nghiên cứu tình hình kháng thuốc kháng sinh năm 2003 của một số vi khuẩn gây bệnh về các vi khuẩn gây bệnh thƣờng gặp ở Việt Nam thì P. aeruginosa là vi khuẩn đứng đầu trong số các vi khuẩn đó chiếm tỷ lệ 22,3% [13].
- Hoàng Kim Tuyến và cộng sự nghiên cứu tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh phân lập tại bệnh viện Thống Nhất (8/2002 - 8/2005) đã chứng minh đƣợc P. aeruginosa là nguyên nhân hàng đầu gây viêm phổi tại bệnh viện với tỷ lệ kháng thuốc khá cao (> 60%) [14]. - Lê Thu Hồng, Hoàng Ngọc Hiện (bộ môn vi sinh - Học viện Quân y) đã nghiên cứu chế tạo huyết thanh kháng P. aeruginosa đa giá, tinh chế và đánh giá hiệu quả điều trị tại chỗ của chế phẩm trên động vật và bệnh nhân bỏng [15].
- Trần Văn Ngọc và cộng sự khảo sát đặc điểm kháng thuốc của P. baumanni gây viêm phổi bệnh viện tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 2013- 2014 thấy P. aeruginosa có tỉ lệ đề kháng cao với nhóm carbapenem (imipenem 72 % và meropenem 74 %), nhóm fluoroquinolone (levofloxacin 50 % và ciprofloxacin 50 %) và betalactam ± ức chế betalactamase (ceftazidim 46 %, piperacillin/ tazobactam 20 % và cefoperazone/sulbactam 72 %) [3]. - Yang và cộng sự (2015) đã nghiên cứu Tỷ lệ nhiễm và sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn P.
aeruginosa tại bệnh viện Nam Trung Quốc. Kết quả cho thấy Polymyxin B có tỷ lệ mẫn cảm cao nhất (98,8 %), trong khi độ mẫn cảm của piperacillin, piperacillin / tazobactam, ceftazidime, amikacin và ciprofloxacin là khoảng 70,0 % -80,0 %. Ở các chủng phân lập khi sử dụng ticarcillin / axit clavulanic, cefoperazone/ sulbactam, cefepime, imipenem, gentamicin, moxifloxacin. Độ nhạy cảm với kháng sinh của levofloxacin là từ 60,0 % đến 70,0 %.
Dƣới 30 % các chủng phân lập đƣợc kháng với cefoperazon và aztreonam. Ngƣợc lại, nhiều chủng đã đƣợc tìm thấy kháng với ampicillin/ sulbactam, amoxicillin/ axit clavulanic, ceftriaxone và 9 cefoxitin, với ít hơn 10 % đƣợc phát hiện [16]. - Năm 2006, Nguyễn Văn Kính và cộng sự phân tích tình hình sử dụng kháng sinh và kháng thuốc tại Việt Nam từ năm 2003 - 2006. Kết quả báo cáo cho thấy tỉ lệ đề kháng đối với các kháng sinh cephalosporins thế hệ 3, thế hệ 4, fluoroquinolon và aminosid của Pseudomonas spp.
từ > 40% trong năm 2004 lên > 50% trong năm 2006. Trong khi imipenem/cilastatin, carbapenem đƣợc đƣa vào thị trƣờng Việt Nam mới gần đƣợc 10 năm, cũng đã giảm nhạy cảm đối với các trực khuẩn Gram âm. Tỷ lệ đề kháng imipenem/cilastatin của Pseudomonas spp. Cũng tăng dần qua các năm 12,5 % (2003), 15,5 % (2005) và 18,4 % (2006) [17].
aeruginosa là vi khuẩn gây bệnh thƣờng xuyên nhất trong môi trƣờng bệnh viện và khả năng kháng thuốc cao với nhiều loại kháng sinh và có tỉ lệ tử vong cao. Trong công trình nghiên cứu năm 2004 về tỉ lệ tử vong của 314 bệnh nhân nhiễm trùng huyết do S. aeruginosa, Osmon và cộng sự nhận thấy, bệnh nhân tử vong do nhiễm trùng huyết bởi P. aeruginosa vẫn cao hơn so với S.