mở đầu các công trình của Phan Kế Lộc (1992) về cấu trúc hệ thực vật Cúc Phƣơng, Nguyễn Nghĩa Thìn (1992 – 1994) về đa dạng thực vật Cúc Phƣơng, từ năm 1995 – 2002 Nguyễn Nghĩa Thìn cùng các tác giả khác đã công bố nhiều bài báo về đa dạng về thành phần của Vƣờn c 8 quốc gia Cúc Phƣơng, vùng núi đá vôi Hoà Bình, Khu bảo tồn Na hang, Khu mỏ vàng ở Bồng Miên (Tam Kỳ- Quảng Nam) Vùng núi Sapa – Phan xi pan, vùng ven biển Nam trung Bộ, Vùng núi Quảng Ninh, lƣu vực Sông Đà, các Vừơn quốc gia Cát Bà, Bến En, Cát Tiên, Pù Mát, Phong Nha, Ba Bể, Yôk Đôn. Qua quá trình nghiên cứu tác gỉa đã công bố cuốn Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật nhằm hƣớng dẫn cách đánh giá tính đa dạng thực vật của vùng nghiên cứu cho các Vƣờn quốc gia và Khu bảo tồn trong cả nƣớc [23],[28], [29]. Một số chƣơng trình, dự án của chính phủ và các tổ chức thế giới nhƣ: Birdlife, WWF, IUCN, WB.đã có nhiều chƣơng trình hành động nghiên cứu bảo vệ và bảo tồn đa dạng sinh học Việt Nam đóng góp một phần đáng kể cho công tác nghiên cứu tiếp theo 1.2 Nghiên cứu cấu trúc rừng: Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian (Phùng Ngọc Lan, 1986). Cấu trúc rừng bao gồm các nội dung cả về sinh thái lẫn hình thái quần thể thực vật.
Nghiên cứu cấu trúc rừng là một nội dung quan trọng để phục vụ cho việc áp dụng các giải pháp lâm sinh, lập kế hoạch kinh doanh rừng lâu dài [12], [13]. Cấu trúc rừng là một vấn đề có nội dung, phƣơng pháp và đa dạng, những đặc trƣng này thƣờng đƣợc mô tả theo đơn vị lâm phần của Đồng Sỹ Hiền (1974) theo tác giả rừng tự nhiên nhiệt đới nƣớc ta chỉ cần có những cây dù khác loài, khác tuổi mọc thành rừng nghĩa là cùng nhau sinh trƣởng trên một diện tích nào đó với mật độ nhất định hình thành một đơn vị sinh học, một lâm phần có quy luật xác định [25]. Về cấu trúc tầng thứ Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) đã mô tả cấu trúc tầng thứ gồm 5 tầng: Tầng vƣợt tán (A1), tầng ƣu thế sinh thái (A2), tầng dƣới tán (A3), tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết, tác giả đã xây dựng lý luận về hệ thống sinh trƣởng, phát sinh thảm thực vật ở Việt Nam dựa vào những luận cứ này Thái Văn Trừng chia rừng c 9 Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật tự nhiên. Đây là cơ sở lý luận làm nền tảng nghiên cứu cho từng đối tƣợng cụ thể rừng ở Việt Nam [30].
Nguyễn Văn Trƣơng (1983) khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài đã xem xét sự phân tầng theo hƣớng định lƣợng phân tầng theo cấp chiều cao một cách cơ giới nên phần nào chƣa phản ánh đúng tính phức tạp của cấu trúc rừng mƣa nhiệt đới [32]. Để có cái nhìn toàn diện hơn về cấu trúc rừng nhiệt đới các nghiên cứu cấu trúc rừng đƣợc chuyển dần từ mô tả định tính sang định lƣợng với sự hỗ trợ của thống kê toán học và tin học, trong đó việc mô tả cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng đã đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả. Vấn đề về cấu trúc không gian và thời gian của rừng đƣợc các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất Về phân bố số cây theo đường kính (N-D) Đồng Sỹ Hiền (1974) [8]với rừng tự nhiên hỗn giao khác tuổi phân bố N-D là phân bố giảm nhƣng do quá trình khai thác chọn thô không theo quy tắc nên đƣờng thực nghiệm thƣờng có dạng hình răng cƣa và ông đã chọn hàm Mayer để mô phỏng cấu trúc đƣờng kính cây rừng. Nguyễn Hải Tuất (1986) sử dụng phân bố mô tả thực nghiệm dạng một đỉnh ngay sát cỡ đƣờng kính bắt đầu đo.
Bảo Huy (1993) [9] cho rằng phân bố khoảng cách thích hợp hơn các dạng phân bố khác. Qua khảo sát các tài liệu liên quan cho thấy việc nghiên cứu phân bố N-D không chỉ dừng lại ở mục đích phục vụ công tác điều tra mà còn xây dựng cơ sở khoa học cho các giải pháp kỹ thuật lâm sinh trong nuôi dƣỡng làm giàu rừng. Về phân bố số cây theo chiều cao (N-H) Đồng Sỹ Hiền (1974) phân bố N/H ở các lâm phần tự nhiên hay trong từng loài cây thƣờng có nhiều đỉnh phản ánh cấu trúc phức tạp của rừng chặt chọn. c 10 Nghiên cứu về tái sinh Phát triển, lợi dụng tài nguyên rừng lâu bền là một phạm trù trong phát triển bền vững vì rừng là một “ Cơ sở tài nguyên” Trong Lâm sinh học nhiệt đới, mục tiêu của phát triển bền vững là mục tiêu đƣợc đặt ra ở vị trí chiến lƣợc cho dù giải pháp kỹ thuật lâm sinh đó tác động vào đối tƣợng rừng nhƣ thế nào.
Tái sinh rừng luôn đƣợc đánh giá là:” Sợi chỉ đỏ xuyên suốt” trong toàn bộ hoạt động của hệ thống lâm sinh [11, tr33]. Khi nghiên cứu ở Tây Bắc, Trần Xuân Thiện (1995) đã cho rằng khả năng tái sinh tốt thƣờng đạt 5000 – 8000cây/ha. Các trạng thái thứ sinh cũng đạt tƣơng đƣơng nhƣng chất lƣợng kém hơn. Dù ở vùng thấp hay cao, nhóm cây chịu hạn, thân nhỏ ƣu thế tuyêt đối.
Tái sinh ở hệ sinh thái rừng thứ sinh ở nƣớc ta có tổ thành loài cây phong phú, do nguồn gốc tích lũy trong đất và do khả năng phát tán hạt giống có hiệu quả của các loài cây rừng thứ sinh, hiện tƣợng “nẩy mầm” đồng thời tạo ra thế hệ hệ sinh thái sinh tiên phong, thuần loài tƣơng đối điều tuổi (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn – 2004) [29]. Đinh Quang Diệp (1993) Nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng Khộp vùng Ea sup – Đăklăk kết luận: Độ tàn che, thảm mục, độ dày tầng thảm mục, điều kiện lập địa. là nhân tố ảnh hƣởng số lƣợng, chất lƣợng cây con tái sinh dƣới tán rừng, qua nghiên cứu tác giả cho biết tái sinh trong khu vực có dạng phân bố cụm [4]. Phạm Ngọc Tƣờng (2003) Nghiên cứu tái sinh rừng sau nƣơng rẫy tại tỉnh Thái Nguyên và Bắc Cạn nhận xét: Phân bố tái sinh cây gỗ theo cấp chiều cao có dạng một đỉnh và sử dụng hàm phân bố Weibull để mô phỏng quy luật đó.
Ngoài ra tác giả còn cho thấy mật độ cây tái sinh giảm dần theo thời gian phục hồi rừng. Trần Ngũ Phƣơng (1965 - 1966) khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự c 11 nhiên nhƣ sau: "Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong, hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau, dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi". Tuy nhiên, sau một thời gian nghiên cứu tìm hiểu quy luật phát triển của các loại hình rừng tự nhiên, xây dựng bảng cân đối giữa một bên là mặt thoái hoá và một bên là mặt phục hồi tự nhiên, tác giả này và các cộng tác viên đã kết luận: "mặt phục hồi tự nhiên không bao giờ cân đối được với mặt thoái hoá về số lượng cũng như chất lượng, nên muốn đảm bảo cho đất nước một độ che phủ thích hợp, chúng ta không thể trông cậy vào quy luật tái sinh tự nhiên mà chỉ có thể đi theo con đường tái sinh nhân tạo, và phương thức chặt tỉa kết hợp với tái sinh tự nhiên hiện nay phải bị lên án" [20] Thực tế cho thấy với điều kiện nƣớc ta hiện nay, nhiều khu vực vẫn phải trông cậy vào tái sinh tự nhiên còn tái sinh nhân tạo mới chỉ đƣợc triển khai trên quy mô hạn chế. Vì vậy, những nghiên cứu đầy đủ về tái sinh tự nhiên cho từng đối tƣợng rừng cụ thể là hết sức cần thiết nếu muốn đề xuất biện pháp kỹ thuật chính xác.
Nhƣ vậy, tái sinh rừng nhiệt đới là một vấn đề đa dạng và phong phú. Quá trình này bị chi phối bởi nhiều nhân tố nhƣ: vị trí địa lý, biện pháp tác động đến tầng cây cao, nguồn gốc hình thành rừng.do vậy, dù tái sinh có những quy luật nhất định, vốn có và tồn tại khách quan nhƣng do tác động làm cho chúng trở nên phức tạp. Tái sinh là vấn đề quan trọng quyết định đến kinh doanh rừng bền vững, vì vậy, nghiên cứu tái sinh rừng là một việc làm không thể thiếu trong các nghiên cứu về cấu trúc rừng. Kết luận: Khái quát những nghiên cứu đa dạng sinh học thành phần thực vật và đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên trên thế giới cũng nhƣ những công trình nghiên cứu trong nƣớc là những công trình nghiên cứu mang tính khoa học cao và rất cấp thiết về lý luận cũng nhƣ thực tiễn đặc biệt trong quản lý rừng ổn định.
Cơ sở khoa c 12 học để nghiên cứu đa dạng sinh học và cấu trúc rừng trong và ngoài nƣớc hết sức phong phú có thể vận dụng để tiếp cận xây dựng mô hình cho một đối tƣợng quản lý rừng. Đã có nghiên cứu về đa dạng sinh học và đặc điểm cấu trúc rừng. Tuy nhiên, các nghiên cứu này cần đƣợc phát triển phù hợp với từng điều kiện, sinh thái, nhân văn cụ thể để phục hồi và phát triển rừng. Do vậy, đề tài đóng góp vào việc bổ sung cơ sở khoa học cho việc phục hồi rừng và phát triển rừng hỗ trợ cho bảo vệ và phát triển rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phƣớc Bửu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là rất cần thiết.3 Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phƣớc Bửu đặc trƣng của kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới miền Đông Nam Bộ.
Đã có nhiều đoàn nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đến khảo sát, nghiên cứu đánh giá tài nguyên động vật rừng và đa dạng sinh học khu BTTN.