CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về phân hạng thích hợp đất đai 1. Tài nguyên đất Đất đai là bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường, đất không chỉ là nguồn tài nguyên mà còn là nền tảng không gian để phân bổ dân cư và các hoạt động KT - XH, đối tượng của lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp [19]. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, đất là phần chất rắn làm thành lớp trên cùng của bề mặt trái đất, gồm các hạt rời, ít gắn kết với nhau và có thể trồng trọt được.
Với đặc thù độc đáo mà không một thực thể tự nhiên nào có được, đó là độ phì nhiêu, đất cung cấp dinh dưỡng cho toàn bộ cây trồng vật nuôi, đất là ngôi nhà chung cho tất cả các hệ sinh thái. Có thể nói, đất là một trong những yếu tố quan trọng để điều hoà nhiệt độ và điều hoà khí hậu, bởi đất góp phần giữ nhiệt độ, làm giảm sức nóng thiêu đốt của mặt trời bằng nhiều tầng đất của mình. Đất còn là túi lọc chuyển nước bề mặt thành nước ngầm và chứa đựng trong lòng nó vô vàn mạch nước tinh khiết. Đất điều hoà lưu lượng nước trên toàn bộ hành tinh chúng ta [19].
Tài nguyên đất theo FAO, tài nguyên đất là lớp vật chất mềm xốp nằm trên cùng của lớp vỏ Trái Đất bao gồm tất cả các đặc điểm của đất mà ở đó thực vật, động vật, vi sinh sinh vật và con người có thể sinh sống, đồng thời được con người sử dụng vào các mục đích an ninh lương thực, văn hóa, tinh thần, thể thao… Tài nguyên đất có khả năng phục hồi song có thể chậm chạp, để hình thành một phẩu diện đất hoàn chỉnh phải cần đến hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm. Tài nguyên đất đai có giá trị to lớn đối với con người cũng như đối với tự nhiên, đất đai có thể sẽ bị suy thoái khi chất lượng của chúng có nguy cơ suy giảm trong khoảng thời gian nhất định. Với cách hiểu như vậy, kiểm soát suy thoái tài nguyên đất là việc áp dụng các biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện, ngăn chặn những nguyên nhân gây ra hiện tượng suy thoái của tài nguyên đất. Những khái niệm chung liên quan thích hợp đất đai - Đất (Soil): Có rất nhiều quan niệm về đất (soil) được các nhà khoa học đặt ra.
Nhà bác học Nga V. Đocuchaev đã khẳng định chính xác về đất: “Đất là thể tự nhiên đặc biệt, hình thành do tác động của các yếu tố khí hậu, sinh vật, đá mẹ, địa hình, thời gian”, sau đó các nhà khoa học đất đã bổ sung yếu tố thứ sáu là hoạt động sản xuất của con người. Như vậy, có thể nhận thấy quan niệm về đất được tiếp cận của V. Đocuchaev có liên quan chặt chẽ đến quá trình hình thành và phát triển của lớp vỏ phong hóa [5].
Ngoài ra, trên quan điểm nông hóa, V.William nhận định “Đất là một lớp tơi xốp trên bề mặt lục địa, có khả năng cho thu hoạch thực vật. Đặc trưng cơ bản của đất là độ phì nhiêu và đó là tính chất hết sức quan trọng của đất đai”. Ở nước ta, theo Tôn Thất Chiểu (1990): “Đất gắn liền với sự màu mỡ, độ phì cho thực vật phát triển” [12]. Sau Hội nghị Thổ nhưỡng Quốc tế lần thứ XVIII (2006), đất được coi là một quyển “Thổ quyển”.
Định nghĩa khái quát hơn về đất “thổ quyển được hình thành do tác động của khí quyển, sinh quyển, thủy quyển lên thạch quyển và có độ phì” [5]. e 10 Theo Tôn Thất Chiểu (1990), đất đai gắn liền với mặt bằng lãnh thổ, chỉ vị trí chiếm chỗ trên hành tinh để bố trí toàn bộ các ngành KT - XH. Đất đai là một vùng đất có ranh giới, có vị trí cụ thể, là tổng hợp đầy đủ các thuộc tính tự nhiên [13]. Từ những quan niệm trên có thể nhận thấy, đất chỉ là một trong những thành phần giá trị của đất đai - tức là một đơn vị lãnh thổ trên đất liền.
Còn đất đai là một tổ hợp các dạng tài nguyên thiên nhiên được đặc trưng bởi một lãnh thổ về chất lượng của các loại đất, bởi một kiểu khí hậu, một dạng địa hình, một chế độ thủy văn, một kiểu thảm thực vật…là một cơ sở không gian (đơn vị lãnh thổ) của việc bố trí các đối tượng sản xuất, định cư và phương tiện sản xuất mà trước hết và rõ nhất là kinh tế nông - lâm nghiệp với dân cư và xây dựng dân dụng… Khi nói đến ĐVĐĐ (land unit) có nghĩa là một bộ phận không gian lãnh thổ đã kèm theo người sở hữu hoặc người có quyền sử dụng và quản lý nó. - Đơn vị đất đai (Land units): Là một diện tích đất đai có đặc trưng và chất lượng đất đai nhất định, có thể phân định ranh giới trên bản đồ. ĐVĐĐ được xem là đơn vị tự nhiên là cơ sở để ĐGĐĐ [4]. - Bản đồ đơn vị đất đai (Land Map Units): Theo FAO (1983), bản đồ ĐVĐĐ là một khoanh/vạt đất cụ thể được xác định trên bản đồ ĐVĐĐ với những đặc tính và tính chất đất riêng biệt (như nhiệt độ, độ dốc, loại đất, địa hình, chế độ nước,…), thích hợp nhất cho một loại hình sử dụng đất cụ thể, cùng một điều kiện quản lý, cùng một khả năng sản xuất và cải tạo đất.
Mỗi ĐVĐĐ có chất lượng (đặc tính và tính chất riêng), nó thích hợp với một loại hình sử dụng đất nhất định [4]. Trong thực tế, các ĐVĐĐ được xác định dựa trên sự chồng ghép các bản đồ đơn tính (bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ thực vật, bản đồ địa hình, bản đồ khí hậu…), sau đó vạch ranh giới cho từng khu vực thể hiện sự khác nhau rõ nét nhất của các yếu tố tự nhiên trên. Tùy theo tỷ lệ bản đồ mà quyết định nhân tố vạch ranh giới. Tập hợp các đơn vị bản đồ đất đai trong khu vực, vùng nghiên cứu được thể hiện bằng bản đồ ĐVĐĐ.
- Sử dụng đất (Land Use) và loại hình sử dụng đất (Land Use Type): e 11 Sử dụng đất: Là hình thức con người dùng diện tích đất đai vào mục đích nào đó. Có nhiều hình thức sử dụng đất khác nhau trên nguồn tài nguyên đất đai: Sử dụng đất trên cơ sở sản xuất trực tiếp (cây trồng, đồng cỏ và gỗ rừng); sử dụng trên cơ sở sản xuất thứ yếu/gián tiếp (chăn nuôi); sử dụng vì mục đích bảo vệ (chống suy thoái đất, bảo tồn đa dạng hóa các loài sinh vật, bảo vệ các loại quý hiếm); sử dụng đất theo các chức năng đặc biệt như đường sá, dân cư, công nghiệp. Loại hình sử dụng đất: Loại sử dụng đất được phân chia cụ thể và chi tiết từ kiểu sử dụng đất chính (ví dụ loại cây trồng, tổ hợp hay hệ thống cây trồng) trong điều kiện KT - XH nhất định [5]. Khi nghiên cứu, ĐGĐĐ loại hình sử dụng đất được điều tra, mô tả một cách chi tiết, đặc biệt đối với hạng sử dụng đất có mục đích đáp ứng yêu cầu của việc đánh giá.
Tuy nhiên, tùy theo nhu cầu sử dụng đất mà chúng ta có thể đánh giá định lượng hay định tính và theo mức độ khái quát hay chi tiết. - Hệ thống sử dụng đất (Land use system): Là một loại đất sử dụng cụ thể, thể hiện trên một ĐVĐĐ và liên quan đến đầu tư, thu nhập và khả năng cải tạo đất [12]. - Hiện trạng sử dụng đất (Land use planning): Là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức,… Quy hoạch sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng cho các ngành các lĩnh vực hoạt động trong đời sống, xã hội, việc này giúp định hướng sử dụng đất cho các ngành, chỉ rõ các địa điểm để phát triển các ngành, góp phần vào phát triển KT - XH của lãnh thổ. - Đánh giá đất đai: là sự đánh giá các đặc tính của đất đai khi sử dụng cho một mục đích sử dụng đặc biệt bao gồm sự thực hiện và thể hiện các thông tin về khảo sát và nghiên cứu dạng địa hình của đất đai, thực vật, khí hậu và những khía cạnh khác của đất đai để xác định và so sánh các loại sử dụng đất đai có triển vọng, được thiết kế và hỗ trợ trong việc quản lý và quy hoạch sử dụng đất đai.
- Yêu cầu sử dụng đất (LUR): Là những điều kiện đất đai cần thiết để đảm bảo cho các LUT phát triển bền vững, mỗi LUT được xác định bằng một bộ các LURs dựa trên các nhu cầu của LUT. e 12 - Chất lượng đất (LQ): Là một đặc trưng phức tạp của đất mà các tác động trong từng tính chất của nó sẽ ảnh hưởng lên tính thích nghi của đất cho một kiểu sử dụng riêng biệt. Chất lượng đất đai có thể thể hiện một cách tích cực hoặc tiêu cực. Ví dụ như độ ẩm sẵn có, khả năng chống xói mòn, nguy cơ lũ lụt, khả năng tiếp cận [13].
- Đặc tính đất (LC): Là một đặc trưng phức tạp của đất đai mà có thể đo lường hay ước tính được, ví dụ như: Góc dốc, lượng mưa, sinh khối của thực vật…[10]. - Đánh giá khả năng thích nghi đất đai: Từ tổng hợp các hệ thống phân hạng và kinh nghiệm trên toàn thế giới, FAO đã đề xuất một cấu trúc phân vị được coi là hoàn chỉnh để các nước vận dụng tùy theo mức độ chi tiết và tỉ lệ bản đồ. Hệ thống cấu trúc phân hạng của FAO được phân chia làm 4 mức: Bộ, hạng, hạng phụ và đơn vị thích hợp, cụ thể có 2 bộ: Thích hợp (S) và không thích hợp (N). Phân hạng đất đai theo FAO Trên thế giới hiện nay có nhiều phương pháp phân hạng đất đai, nhưng có ba phương pháp phân hạng phổ biến theo hướng dẫn của FAO: - Phân hạng chủ quan: Là phương pháp đánh giá phân hạng thông qua nhận xét, đánh giá chủ quan của các cá nhân kết hợp, thành phân hạng thích hợp tổng thể.
Phương pháp này có ưu điểm là nếu có ý kiến cá nhân nhận xét đó là của các chuyên gia có trình độ và kiến thức tốt, có kinh nghiệm thực tế về điều kiện tự nhiên, đặc tính đất đai và kinh tế xã hội của vùng đó thì phương pháp kết hợp ý kiến chủ quan này rất tốt, đảm bảo tính chính xác, nhanh chóng, đơn giản [11].