CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Hiệu quả sản xuất * Hiệu quả sản xuất : người sản xuất phải đối mặt với các giới hạn trong việc sử dụng các nguồn lực sản xuất. Do đó, cần phải xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các hoạt động cần thực hiện dựa vào các nguồn lực đó sao cho đạt kết quả cao nhất.
Trong đó gồm ba yếu tố mà Pauly (1970) và Culyer (1985) đã rút ra nhận xét như sau: + Không sử dụng nguồn lực lãng phí. + Sản xuất với chi phí thấp nhất. + Sản xuất để đáp ứng nhu cầu của con người. Từ nhận xét này, chúng ta có thể thấy rằng: 2 nhận xét đầu liên quan đến quá trình sản xuất và nhận xét thứ 3 liên quan đến thị trường (phân phối).
Tóm lại, trong bất cứ quá trình sản xuất nào, khi tính hiệu quả sản xuất thì người ta thường đề cập đến 3 nội dung cơ bản: hiệu quả kinh tế, hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả phân phối. ∗ Hiệu quả kinh tế: hiệu quả kinh tế được đo bằng sự so sánh kết quả sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả kinh tế là biểu hiện của tính hiện hữu về mặt kinh tế của việc sử dụng các vật tư, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nó chỉ ra các mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế thu được với các chi phí bằng tiền trong mỗi chu kì kinh doanh.
Lợi ích kinh tế càng lớn thì hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại. Hay nói cách khác, tiêu chí về hiệu quả kinh tế thực ra là giá trị. Có nghĩa là, khi có sự thay đổi làm tăng giá trị sản xuất kinh doanh thì sự thay đổi đó có hiệu quả và ngược lại là không hiệu quả. Các yếu tố đánh giá hiệu quả kinh tế: - Tổng thu nhập = Giá bán * Tổng sản lượng.
n 5 - Tổng chi phí = Chi phí đầu tư ban đầu + Chi phí trung gian +Chi phí khác. - Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí ∗ Hiệu quả kĩ thuật: đòi hỏi các sản xuất tạo ra một số lượng sản phẩm nhất định xuất phát từ việc sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất. Hiệu quả kỹ thuật được xem chỉ là một thành phần của hiệu quả kinh tế. ∗ Hiệu quả phân phối: thể hiệu giữa người sản xuất và người tiêu dung.
Có nghĩa là, người sản xuất phải cung cấp những sản phẩm mà người tiêu dùng cần nhất. Một số đặc điểm chung của sản xuất chè 1. Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao. Chè đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa của con người.
Cây chè được trồng ở nhiều nơi trên thế giới. Với nhiều giống chè khác nhau, chè mang đến cho thế giới những sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu của hầu hết người tiêu dùng trên thế giới. Ngoài tác dụng là nước giải khát chè còn được coi như một loại thần dược phòng và chữa bệnh cho con người, là lớp thực vật bảo vệ đất và môi trường. Sản phẩm chè của nước ta không chỉ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng nội địa mà còn được xuất khẩu nhiều nơi trên thế giới.
Góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông sản trong nước, đồng thời thu về nguồn ngoại tệ không nhỏ cho đất nước. Đối với người nông dân sản xuất chè, ngoài việc tạo công ăn việc làm ổn định và đem lại thu nhập cho gia đình góp phần dùy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống cho họ. Hầu hết người nông dân làm chè họ ít bị thấp nghiệp và có thu nhập cao và ổn định hơn hầu hết cây trồng khác trong vùng. Ngoài giá trị về kinh tế, cây chè đa góp phần bảo vệ môi trường, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc.
Vì là cây công nghiệp dài ngày và phát triển tương đối ổn định (chè trung du chu kì sống khoảng 30 – 40 năm, chè giống mới 15 – 20 năm) đã góp phần bảo vệ một nền nông nghiệp bền vững cho 1 n 6 đất nước còn đang phát triển như nước ta (Lê Tất Khương, Đỗ Ngọc Quý, 2000)[5]. Như vậy, việc phát triển sản xuất chè không những góp phần đem lại hiệu quả kinh tế cho xã hội mà góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân, cải thiện đời sống ở nông thôn, làm giảm khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn. Không những vậy việc sản xuất chè còn góp phần thúc đẩy nhanh hơn quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, giảm bớt khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền khác nhau trong cả nước[1].2 Tóm tắt đặc điểm một số giống chè + Giống chè Trung du (hay còn gọi là chè ta) đây thực chất là giống chè Trung Quốc, được du nhập vào nước ta từ rất lâu đời, ở vùng Trung Du Bắc Bộ. Giống có khả năng thích ứng với vùng đất khô cằn, khả năng chịu sâu bệnh tốt và thích hợp ở mức trung bình cho cả sản xuất chè đen và chè xanh.
Hiện này, giống này chiếm khoảng 60% tổng diện tích chè của cả nước. + Giống chè Lai: Có các loại giống lai phổ biến như LDP1, LDP2. Chè lai có đặc điểm chung là năng suất cao hơn vì búp to hơn, dậy mùi thơm hơn nhưng vị thường nhạt hơn. + Giống chè TRI777: Thuộc biến chủng chè Shan, cây sinh trưởng khá, búp to có lông tuyết, mật độ búp thấp, góc độ phân cành hẹp, tán tương đối rộng.
Đây là giống thích hợp chế biến chè xanh và chè đen chất lượng cao. Dễ giâm cành, cây sinh trưởng khoẻ, khi trồng có tỷ lệ sống cao. Khả năng chống chịu đối với sâu bệnh hại kém: bị bọ xít muỗi và rệp phảy phá hại nặng. + Giống mới: Các giống chè mới thường được nhập từ nước ngoài như: Kim Tuyên, Bát Tiên, Phúc Vân Tiên, Thúy Ngọc.Các giống này thường có mùi thơm đặc trưng, hoàn toàn khác mùi hương chè thông thường.
+ Giống Kim Tuyên (Kim Huyên, A17 hoặc dòng 27) có nguồn gốc là giống vô tính của Đài Loan, được chọn lọc từ tổ hợp lai hữu tính giữa mẹ là giống Ôlong lá to của địa phương và bố là giống Raiburi của Ấn Độ vào năm 1975. Nhập nội vào Việt Nam từ 1994. Trồng ở các tỉnh Lâm Đồng, Yên Bái, Phú Thọ, Lạng Sơn. + Giống chè Phúc Vân Tiên: Có nguồn gốc là giống vô tính của Trung Quốc, chọn lọc từ tổ hợp lai hữu tính giữa mẹ là giống chè Phúc Đỉnh Đại n 7 Bạch Trà và bố là giống chè Vân Nam lá to từ 1957-1971 bởi Viện Nghiên cứu chè tỉnh Phúc Kiến nhập nội vào Việt Nam năm 2000 [12].
Còn nhiều giống chè khác, nhưng trên đây là giống chè phổ biến được trồng tại Việt Nam. Cách phân biệt của nông dân thì người ta thường gọi giống chè trung du (chè ta) là giống chè truyền thống vì nó được đưa vào Việt Nam khá lâu đời (trồng bằng hạt). Giống chè lai (LDP1, LDP2 ) + giống chè mới (Giống chè TRI777, Kim Tuyên, Bát Tiên, Phúc Vân Tiên, Thúy Ngọc.) người ta gọi chung là chè cành mới xuất hiện vài chục năm trở lại đây và có đặc điểm phân biệt là khi trồng người ta dùng cành ươm sau đó mang đi trồng. Nhìn chung các giống chè có những đặc điểm và quy trình chăm sóc tương đối giống nhau.
Tuy nhiên, mỗi loại giống chè có những đặc điểm riêng nhất định. Sau đây chúng ta xét nhưng đặc điểm chung của cây chè.3 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè Cây chè có đặc điểm từ sản xuất đến chế biến đòi hỏi phải có kỹ thuật khá cao từ khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch đến chế biến và bảo quản. Vì thế để phát triển ngành chè hàng hóa đạt chất lượng cao cần phải quan tâm, chú trọng từ những khâu đầu tiên, áp dụng những chính sách đầu tư hợp lý, loại bỏ dần những phong tục tập quán trồng chè lạc hậu… Để tạo ra được những sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh cao, thu hút khách hàng và các nhà đầu tư sản xuất trong và ngoài nước. Cây chè là cây trồng mũi nhọn của địa phương vì thế cần phải thực hiện theo hướng chuyên môn hóa để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè góp phần tăng thu nhập cải thiện đời sống người dân trồng chè.
Những nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất chè a. Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên Yêu cầu tổng hợp các điều kiện sinh thái thích hợp cho cây chè là: đất tốt, sâu, chua, thoát nước, khí hậu ẩm và ấm. + Điều kiện độ ẩm và lượng mưa: So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không nghiêm khắc lắm. Song để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt những yêu cầu sau: tốt, nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước.
Độ n 8 pH thích hợp cho chè phát triển là 4,5 - 6,0. Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là 80 cm, mực nước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường. - Đất trồng chè của ta ở các vùng Trung Du phần lớn là feralit vàng đỏ được phát triển trên đá granit, nai, phiến thạch sét và mica. Ở vùng núi phần lớn là đất feralit vàng đỏ được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét.
Về cơ bản những loại đất này phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của chè như có độ pH từ 4 đến 5 có lớp đất sâu hơn 1 mét và thoát nước. - Địa hình và địa thế có ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng và chất lượng chè. Thực tiễn ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản cho thấy: chè không trồng trên núi cao có hương thơm và mùi vị tốt hơn chè trồng ở vùng thấp và đồng bằng. Kinh nghiệm nhận thấy chè được chế biến từ nguyên liệu ở núi cao Xrilanca có mùi thơm của hoa mà hương vị đó không thể có được trong chè trồng ở khu vực thấp.
Phần lớn các vùng trồng chè có phẩm chất tốt của các nước trên thế giới thường có độ cao cách mặt biển từ 500 đến 800 m. Vùng chè ngon có tiếng ở Ấn Độ trồng ở độ cao cách mặt biển 2. Ở độ vĩ càng cao phẩm chất và sản lượng chè càng có xu hướng giảm thấp. Do độ nhiệt thấp, độ ẩm thấp và ngày dài đã ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng và tích lũy vật chất trong cây chè [8].