Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1.1 Cơ sở lý luận Thực tế cho thấy tất cả các dự án theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường trước khi được tiến hành xây dựng cơ bản phải thông qua quá trình đánh giá tác động môi trường. Bên cạnh đó đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh đã đi vào hoạt động, ngoài báo cáo đánh giá tác động môi trường mà chủ công ty xây dựng trước đây thì việc đánh giá hiện trạng môi trường định kỳ cần thiết phải được tiến hành theo đúng cam kết bảo vệ môi trường mà chủ công ty đã lập. Thông qua việc đánh giá tác động môi trường của dự án và cơ quan quản lý thấy được những tác động có thể có với môi trường khi dự án đi vào hoạt động và thấy được việc sản xuất kinh doanh đã và đang ảnh hưởng như thế nào đến môi trường.
Từ đó các biện pháp phòng ngừa hạn chế và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Đối với công ty Luyện thép Lưu Xá - Công ty cổ phần Gang thép cũng vậy, từ khi xây dựng cơ bản đến khi đi vào hoạt động sản xuất phải trải qua những giai đoạn đánh giá hiện trạng môi trường, cam kết bảo vệ môi trường và đánh giá hiện trạng môi trường định kỳ khi công ty đã đi vào hoạt động. Hiện nay khi Công ty đã đi vào hoạt động một khoảng thời gian dài thì việc đánh giá hiện trạng môi trường là rất cần thiết và cần phải có. Thông qua đó có thể đánh giá mức ảnh hưởng trong quá trình công ty hoạt động đã và đang tích cực đến môi trường tự nhiên, xã hội , từ đó giúp cơ quan quản lý cung như chủ công ty có những biện pháp đúng đắn hơn trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại khu vực.
Để việc đánh giá chất lượng môi trường được chính xác và cụ thể, Nhà máy thực hiện chương trình giám sát môi trường [2 ] (Báo cáo quan trắc giám sát định kỳ đợt III năm 2011) Mục tiêu của việc giám sát hiện trạng môi trường nhà máy là thu thập một cách liên tục các thông tin về sự biến đổi chất lượng môi trường, để kịp thời phát hiện những tác động xấu đến môi trường của Nhà máy và đề xuất các biện pháp ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm. Mặt khác giám sát chất lượng môi trường của n 4 khu vực nhằm đảm bảo các hệ thống xử lý ô nhiễm khí, hệ thống xử lý nước thải và các hệ thống khác trong khu vực sản xuất của nhà máy có hiệu quả, bảo đảm chất lượng nước và khí thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn xả vào nguồn nước và vào môi trường không khí theo quy định của quy chuẩn, tiêu chuẩn và Quy định của Bộ Y Tế nơi làm việc. - Đảm bảo phù hợp với các biện pháp giảm thiểu đã đề ra trong đề án bảo vệ môi trường, đảm bảo chương trình quản lý đúng đắn và các chức năng quản lý chất thải, đưa ra được cơ cấu phản ứng nhanh các vấn đề và sự cố môi trường bất thường xảy ra và không lường trước được. Các thông tin thu được trong quá trình giám sát môi trường phải đảm bảo được các thuộc tính cơ bản sau đây: - Độ chính xác của số liệu: độ chính xác của số liệu giám sát được đánh giá bằng khả năng tương đồng giữa các số liệu và thực tế.
- Tính đặc trưng của số liệu: số liệu thu được tại một điểm quan trắc phải đại diện cho một không gian nhất định. - Tính đồng nhất của số liệu: các số liệu thu thập được tại các điểm khác nhau vào những thời điểm khác nhau của khu vực nghiên cứu phải có khả năng so sánh được với nhau, khả năng so sánh của các số liệu được gọi là tính đồng nhất của các số liệu. - Khả năng theo dõi liên tục theo thời gian. - Tính đồng bộ của số liệu: số liệu phải bao gồm đủ lớn các thông tin về bản thân yếu tố đó và các yếu tố có liên quan.
Nội dung của chương trình giám sát môi trường Nội dung của chương trình giám sát chất lượng môi trường bao gồm: - Quan trắc nguồn khí thải, tiếng ồn. - Quan trắc chất lượng môi trường nước. - Giám sát môi trường làm việc Cơ sở quan trắc chất lượng môi trường Chương trình giám sát chất lượng môi trường đề ra trong đề án này được lập trên cơ sở của chương trình giám sát môi trường của Báo cáo đánh giá tác động môi trường khu công nghiệp Lưu Xá Gang thép được lập năm 1999 đã được Bộ n 5 KHCNMT phê duyệt theo quyết định số 2200/QĐ-BKHCNMT ngày 21/12/1999 (theo báo cáo này Nhà máy chưa có chương trình quan trắc cụ thể) và kết quả kiểm soát ô nhiễm môi trường năm 2009 của Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên. Chương trình quan trắc môi trường của Nhà máy Luyện thép sẽ là cơ sở cho việc giám sát chất lượng môi trường do hoạt động sản xuất của Nhà máy.
Đồng thời căn cứ vào các quy định hiện hành của pháp luật về bảo vệ môi trường và các điều kiện kỹ thuật: - Luật bảo vệ môi trường và các văn bản có liên quan của Việt Nam. - Các tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường, quy định của Bộ y tế về môi trường lao động (2002). - Dự báo ô nhiễm môi trường. - Hiện trạng chất lượng môi trường khu vực.
Chương trình giám sát chất lượng môi trường Kiểm soát ô nhiễm sẽ được nhà máy thực hiện kết hợp với cơ quan chuyên môn có chức năng về quản lý môi trường ở địa phương. Cơ sở thực tiễn Hiện nay tất cả các dự án hoặc các cơ sở sản xuất kinh doanh đã và đang đi vào hoạt động đã có báo cáo đánh giá tác động môi trường, hoặc phải có cam kết bảo vệ môi trường. Tuy nhiên do lợi ích kinh tế việc thực hiện theo đúng đánh giá tác động môi trường và cam kết bẻo vệ môi trường chưa được đầy đủ, do đó việc vi phạm trong lĩnh vực môi trường là rất dễ xảy ra đặc biệt là đối với các Khu công nghiệp, Cụm công nghiêp. Đứng trước thực trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cần phải thường phải được thường xuyên kiểm tra đánh giá chất lượng môi trường.
Để từ đó có những thay đổi về phương pháp, công nghệ sản xuất giảm thiểu tác động xấu đến môi trường mà vẫn đảm bảo được hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên trên thực tế việc đánh giá hiện trạng môi trường vẫn thường bị né tránh hoặc bỏ qua vì đây là vấn đề nhạy cảm nên thấy việc hoạt động sản xuất, tác động xấu đến môi trường thì cơ sở đó phải thay đổi công nghệ sản xuất hoặc đình chỉ hoạt động hoặc phải bồi thường thiệt hại do những tác động xấu đến môi trường, điều này làm ảnh hưởng đến lợi ích của công ty. Do đó nhiệm vụ của các nhà quản lý. Các cơ quan thảo luật và ban hành luật phải đưa ra những quy định rõ n 6 ràng về công tác điều tra , đánh giá hiện trạng môi trường cho các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các công ty để từ đó làm cơ sở cho các cơ quan thực hiện tốt phù hợp với các hoạt động của ngành trên địa bàn.
- Căn cứ vào Chương V Luật bảo vệ môi trường 29/11/2005, quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ. - Căn cứ vào chương VIII Luật bảo vệ môi trường 29/11/2005, quy định về quản lý chất thải. - Căn cứ vào Chương III, mục 8 Nghị định 80CP/2006/NĐ-CP về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ. - QCVN 05:2009/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh.
- QCVN 08 : 2008/BTNMT : Quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước mặt - QCVN 9 : 2008/BTNMT : Quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước ngầm - QCVN 14 : 2008/BTNMT : Quy chuẩn quốc gia về nước thải sinh hoạt - QCVN 24 : 2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước thải công nghiệp. - QCVN 07: 2009 /BTNMT Quy chuẩn quốc gia đối với chất thải nguy hại - TCVN 3733/2002/BHYT-QĐ về giá trị giới hạn nồng độ các chất gây ô nhiễm trong môi trường sản xuất. Khái quát lịch sử ngành phôi thép Việt Nam 1. Quá trình phát triển của ngành phôi thép Việt Nam Ngành phôi thép Việt Nam được xây dựng từ đầu những năm 60 của thế kỷ 20.
Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên (Trung Quốc) giúp cho ra lò mẻ gang đầu tiên vào năm 1963. Song do chiến tranh và khó khăn nhiều mặt, 15 năm sau Khu liên hiệp Gang thép Thái Nguyên mới có sản phẩm thép cán. Năm 1975 nhà máy luyện cán thép Gia Sàng do Đức giúp dã đi vào sản phẩm Công xuất thiết kế cả sau Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên lên đến 10 vạn tấn/năm. Năm 1976, công ty luyện kim đen miền Nam được thành lập trên cơ sở tiếp quản các nhà máy luyện, cán thép mini của chế độ cũ để lại ở thành phố Hồ Chí n 7 Minh và Biên Hoà, với tổng công xuất khoảng 80.
Từ 1976 đến 1989, ngành thép gặp rất nhiều khó khăn do kinh tế đất nước lâm vào khủng hoảng. Mặt khác, nguồn thép nhập khẩu từ Liên Xô (trước đây) và các nước xã hội chủ nghĩa vẫn còn dồi dào, vì vậy ngành thép không phát triển được và duy trì mức sản lượng 40. Từ năm 1989 đến năm 1995, thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước, ngành thép bắt đầu có tăng trưởng, sản lượng thép trong nước đã vượt ngưỡng 100. Năm 1999 Tổng công ty thép Việt Nam (thuộc Bộ công nghiệp nặng - nay là Bộ công nghiệp) được thành lập, thống nhất quản lý ngành sản xuất thép quốc doanh trong cả nước.
Đây là thời phát triển sổi động, nhiều dự án đầu tư chiều sâu vào liên doanh với nước ngoài được thực hiện… Các ngành cơ khí, xây dựng, quốc phòng và các thành phần kinh tế khác đua nhau làm thép mini. Sản lượng thép cán năm 1995 đã tăng lên gấp 4 lần so với năm 1990, đạt 450.000 tấn/năm và bằng mức Liên Xô cung cấp cho nước ta trước năm 1990. Tháng 4 năm 1995 Tổng công ty Việt Nam được thành lập theo mô hình công ty nhà nước trên cơ sở hợp nhất Tổng công ty thép Việt Nam và Tổng công ty kim khí thuộc Bộ thương mại.