MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Công nghiệp hóa là một quá trình không thể thiếu ở mỗi quốc gia. Đây là quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội ở một cộng đồng người từ nền kinh tế với mức độ tập trung tư bản nhỏ bé (xã hội tiền công nghiệp) sang nền kinh tế công nghiệp. Sự chuyển biến kinh tế - xã hội này đi đôi với tiến bộ công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của sản xuất năng lượng quy mô lớn làm cho cuộc sống, sinh hoạt của con người tốt hơn đầy đủ tiện nghi hơn và nó thể hiện qua việc tăng trưởng kinh tế, giáo dục, xã hội… Tuy nhiên quá trình này cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống con người.
Ô nhiễm môi trường chính là tác hại rõ nhất của quá trình công nghiệp hóa. Quá trình công nghiệp hóa có thể gây những ảnh hưởng nặng nề đến môi trường, đặc biệt là môi trường nước. Môi trường nước có thể bị ô nhiễm bởi nhiều nguyên nhân như : nước thải, khí thải, chất thải rắn. được thải ra ngoài môi trường trong quá trình sản xuất công nghiệp.
Ở nhiều thành phố lớn trên thế giới, các chất thải này được xả thải trực tiếp vào môi trường mà chưa qua xử lý hoặc đã qua xử lý nhưng chưa đảm bảo trước khi xả thải vào môi trường. Đây là nguyên nhân khiến cho môi trường nước bị ô nhiễm… Tình trạng ô nhiễm ngày một nặng và dân số ngày càng tăng, nước sạch dự báo sẽ sớm trở thành tài nguyên quý giá không kém các loại tài nguyên khác. Nhưng loại tài nguyên này không thể thay thế bằng loại nguyên liệu khác có trên thế giới; tất cả mọi sinh vật sống trên thế giới đều cần phải có nước để duy trì sự sống. Tình trạng tài nguyên nước ở Việt Nam hiện nay đang phải chịu tác động vô cùng lớn, đó là tình trạng ô nhiễm nguồn nước và sử dụng nguồn nước quá mức cho phép.TS Ngô Đình Tuấn, hiện h 2 nay đã có khoảng 2 tỷ người thiếu nước.
Nước ta tuy đạt 9.430 m/người/năm nhưng 60% lượng nước là từ lãnh thổ bên ngoài từ các nước láng giềng chảy sang, bởi vậy chúng ta khó chủ động khai thác sử dụng nhưng sau đó chúng ta lại phải hứng chịu những tác động không mong muốn như ô nhiễm. Cho nên vấn đề tài nguyên nước đã trở thành một chủ đề quan trọng trong các cuộc hội đàm quốc tế. Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại. Người dân thường phải sống chung với khu vực bị ô nhiễm, sử dụng nguồn nước ô nhiễm để sinh hoạt thì sẽ có nguy cơ mắc nhiều loại bệnh như da liễu, tiêu chảy, suy thận, suy gan, suy giảm các chức năng của các bộ phận trong cơ thể người.
Bên cạnh đó khi sử dụng nguồn nước ô nhiễm thì sẽ làm cho các ngành sản xuất kinh doanh, các hộ nuôi trồng thủy sản chậm tiến độ, gây thiệt hại lớn. Với tình trạng ô nhiễm như hiện nay, Việt Nam cũng như các nước trên thế giới cần phải giám sát, quản lý môi trường nước một cách chặt chẽ, có các biện pháp khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước và xử lý các đối tượng gây ô nhiễm theo quy định của pháp luật. Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự nhất trí của khoa Quản lý tài nguyên, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá chất lượng nước thải Nhà máy Nhiệt điện An Khánh - Thái Nguyên”. Mục tiêu của đề tài - Đặc điểm cơ bản của Nhà máy - Hiện trạng sử dụng nước, nước thải và quy trình xử lý nước thải của Nhà máy - Đánh giá chất lượng nước thải của Nhà máy h 3 - Năm bắt được ý kiến đánh giá của người dân về nước thải 1.
Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học + Nâng cao kiến thức, kỹ năng phục vụ cho công tác nghiên cứu sau này + Vận dung kiến thức đã học vào thực tiễn - Ý nghĩa thực tiễn + Đánh giá được chất lượng nước thải của Nhà máy + Cảnh báo nguy cơ tiềm tàng về ô nhiễm suy thoái môi trường nước do nước thải gây ra, ngăn ngừa và giảm thiểu ảnh hưởng của nước thải đến môi trường, bảo vệ sức khỏe của người dân khu vực quanh xí nghiệp. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Một số khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nước đánh giá chất lượng nước - Khái niệm môi trường Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường 2014: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.” - Khái niệm về ô nhiễm môi trường Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật (Theo khoản 8 điều 3 của luật BVMT Việt Nam năm 2014).
- Khái niệm đánh giá chất lượng nước Theo Escap (1994) chất lượng nước được đánh giá bởi các thông số, chỉ tiêu đó là: + Các thông số lý học, ví dụ như: Nhiệt độ: Nhiệt đô tác động tới các quá trình sinh hoá diễn ra trong nguồn nước tự nhiên. Sự thay đổi về nhiệt kéo theo các thay đổi về chất lượng nước, tốc độ, dạng phân huỷ các hợp chất hữu cơ, nồng độ oxy hoà tan. pH: Là chỉ số thể hiện độ axit hay bazơ của nước, là yếu tố môi trường ảnh hưởng tới tốc độ phát triển và sự giới hạn phát triển của vi sinh vật trong nước + Các thông số hoá học, ví dụ như: BOD: Là lượng oxy cần thiết cung cấp để vi sinh vật phân huỷ các chất hữu cơ trong điều kiện chuẩn về nhiệt độ và thời gian. COD: Là lượng oxy cần thiết để oxy hoá các hợp chất hoá học trong nước.
h 5 NO3: Là sản phẩm cuối cùng của sự phân huỷ các chất có chứa Nitơ trong nước thải. Các yếu tố kim loại nặng: Các kim loại nặng là những yếu tố mà tỉ trọng của chúng bằng hoặc lớn hơn 5: Asen, Cadimi, Fe, Mn,…ở hàm lượng nhỏ nhất định chúng cần cho sự phát triển và sự sinh trưởng của động, thực vật nhưng khi hàm lương tăng thì chúng sẽ thành độc hại đối với sinh vật và con người thông qua chuỗi mắt xích thức ăn. + Các thông số sinh học, ví dụ như: Colifom: Là nhóm vi sinh vật quan trọng trong chỉ thị môi trường, xác định mức độ ô nhiễm về mặt sinh học của nguồn nước. Khái niệm về nước thải và nguồn nước thải Khái niệm về nước thải.
Theo Tiêu chuẩn Việt Nam 5980-1995 và ISO 6107/1-1980: “Nước thải là nước đã được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó. Khái niệm về nguồn nước thải: Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng. Đó cũng là cơ sở trong việc lựa chọn các biện pháp giải quyết hoặc công nghệ xử lý: - Nước thải sinh hoạt: Là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở tương tự khác. - Nước thải công nghiệp (hay còn gọi là nước thải sản xuất): Là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu.
- Nước thải tự nhiên: Nước mưa được coi là nước thải tự nhiên ở những thành phố lớn, chúng được gom theo hệ thống riêng. h 6 - Nước thải đô thị: Là một thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát nước của một thành phố, thị xã; đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên. - Nước thấm qua: Là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố ga hay hố xí.