ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài. Đất đai đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của con người. Đất là sản phẩm của thiên nhiên đã trao tặng cho con người, là nguồn gốc của mọi của cải vật chất trong xã hội, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được đối với sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp.
Đất đai là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ cấu kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng. Nhận thấy tầm quan trọng của đất đai Mác đã khái quát rằng: “Đất là mẹ, sức lao động là cha sản sinh ra của cải vật chất”. Khi xã hội ngày càng phát triển cùng với sự bùng nổ dân số đã làm cho đất đai ngày càng chịu áp lực nặng nề hơn, nhu cầu về đất ở cho các hoạt động phục vụ con người ngày càng tăng trong khi quỹ đất của chúng ta lại có giới hạn. Nước ta với 3/4 diện tích là đồi núi nên việc khai thác và sử dụng đất còn gặp nhiều khó khăn, phần diện tích đất bằng thì nhỏ, việc sử dụng còn chưa hợp lý, chồng chéo thiếu khoa học nên hiệu quả chưa cao.
Do vậy, vấn đề quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất đai là vấn đề cấp thiết hiện nay. Trong quá trình CNH - HĐH, nhu cầu về đất đai trong xã hội ngày một tăng, biến động về đất đai ngày càng nhiều. Do vậy, công tác quản lý và sử dụng đất đai đã và đang được Đảng và Nhà nước quan tâm, đưa ra những chính sách nhằm sử dụng đất đai một cách bền vững và có hiệu quả cao. Quy hoạch sử dụng đất đai có nhiệm vụ bố trí, sắp xếp lại nền sản xuất của các lĩnh vực một cách hợp lý trên cơ sở dự báo nhu cầu phát triển của các lĩnh vực và định hướng phát triển kinh tế của từng vùng cũng như toàn lãnh thổ.
Đồng thời quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của nông nghiệp nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai, phát huy ngành và lãnh thổ, hạn chế sự chồng chéo tránh gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện làm giảm nghiêm trọng quỹ đất trong nông nghiệp. e 2 Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, Văn Chấn nói chung và xã Nậm Lành nói riêng, sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số đã và đang gây áp lực lớn trong quá trình sử dụng đất đai. Nắm rõ được tình hình địa phương, UBND huyện Văn Chấn, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, UBND xã Nậm Lành đã xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất đai giai đoạn 2010 - 2020. Trong quá trình thực hiện quy hoạch đã tạo ra những chuyển biến lớn, kinh tế phát triển, cơ sở hạ tầng được nâng cấp và làm mới phục vụ tốt cho phát triển sản xuất và đời sống.
Tuy vậy cũng phát sinh nhiều vấn đề nằm ngoài phương án quy hoạch đặc biệt là trong giai đoạn những năm gần đây. Để việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất các giai đoạn sau tốt hơn các giai đoạn trước là nội dung quan trọng. Chính vì vậy được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên, sự giúp đỡ của UBND xã Nậm Lành, huyện Văn Chấn, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy Th.s Nguyễn Đình Thi em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại xã Nậm Lành - huyện Văn Chấn - tỉnh Yên Bái giai đoạn 2010 - 2014”. Mục đích nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở tìm hiểu công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất của xã Nậm Lành - huyện Văn Chấn - tỉnh Yên Bái giai đoạn 2010 - 2014 nhằm thấy được sự hợp lý và chưa hợp lý của phương án quy hoạch, đánh giá được những thành tựu, hạn chế, tồn tại trong việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục.
Mục tiêu nghiên cứu - Điều tra, phân tích, đánh giá về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã Nậm Lành - huyện Văn Chấn - tỉnh Yên Bái. - Phân tích, đánh giá tình hình sử dụng đất. - Đánh giá kết quả thực hiên quy hoạch sử dụng đất. - Đề xuất các biện pháp thực hiện kế hoạch sử dụng đất hiệu quả hơn.
Yêu cầu của đề tài - Số liệu thu thập được phải khách quan, chính xác, trung thực. - Từ kết quả nghiên cứu phải đưa ra được những nguyên nhân của tồn tại, khó khăn từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Ý nghĩa của đề tài - Tìm hiểu, nắm vững được các kiến thức thực tế về Luật đất đai và công tác QHSDĐ, có được những kinh nghiêm thực tế, củng cố và hoàn thiện thêm kiến thức đã học, biết cách thực hiện một đề tài khoa học và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp. - Đánh giá được thực trạng sử dụng đất, xác định được những tồn tại chủ yếu trong việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất, nguyên nhân và giải pháp khắc phục.
e 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đất đai, tư liệu sản xuất đặc biệt Đất là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người, tồn tại ngoài ý muốn của con người và ngay từ thời kỳ sơ khai thì con người đã biết sử dụng đất để phục vụ cho đời sống của mình: Để ở, để sản xuất… Với xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng cao thì đất đai chiếm vị trí hàng đầu, nó không những cung cấp cho con người tư liệu vật chất để sinh tồn và phát triển mà còn cung cấp điều kiện cần thiết để hưởng thụ, đồng thời đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống của nhân loại. Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người vừa là đối tượng lao động, vừa là phương tiện lao động.
Nói cách khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của con người. Vì vậy đất đai là “Tư liệu sản xuất đặc biệt”. Kinh tế xã hội ngày càng phát triển, cùng với sự bùng nổ về dân số thì vấn đề về đất đai luôn được chú trọng và quan tâm hàng đầu. Đặc biệt riêng với Việt Nam dân số sống bằng sản xuất nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng cao thì vấn đề sử dụng đất đai hợp lý và khoa học là rất cần thiết.
Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất vật chất và phát triển kinh tế xã hội Nói về vai trò của đất đai đối với sản xuất, Mác khẳng định “Lao động không phải là nguồn duy nhất sinh ra của cải vật chất và giá trị tiêu thụ, lao động chỉ là cha của cải vật chất, còn đất là mẹ”. Đất đai là khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người. Nó tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, tuy nhiên vai trò của đất đai với các ngành là khác nhau. e 5 - Đối với ngành phi nông nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các khoảng sản).
Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm và độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất sẵn có trong đất. - Đối với các ngành nông lâm nghiệp: Lao động là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất đồng thời là đối tượng lao động (cày, bừa, xới…).Quá trình sản xuất nông - lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ tới độ phì nhiêu và quá trình sinh học của đất. Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất, văn minh tinh thần, các thành tựu khoa học công nghệ đều được hình thành trên nền tảng cơ bản - sử dụng đất. Trong quá trình CNH - HĐH đất nước cùng với sự bùng nổ dân số đã làm cho mối quan hệ giữa người với đất ngày càng căng thẳng, đòi hỏi con người cần có biện pháp sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả.
Khái niệm và các loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai * Khái niệm: Quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện tượng kinh tế xã hội đặc thù. Đây là một hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý một hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế, xã hội được xử lý bằng các phân tích tổng hợp về sự phân bố địa lý và các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có tính chất đặc trưng. Từ đó đưa ra các giải pháp định vị cụ thể của việc tổ chức phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định. Cụ thể là đáp ứng nhu cầu mặt bằng sử dụng đất hiện tại và tương lai của các ngành, các lĩnh vực cũng như nhu cầu sinh hoạt của mọi thành viên trong xã hội một cách tiết kiệm, khoa học hợp lý và hiệu quả.
Về mặt bản chất cần được xác định dựa trên quan điểm nhận thức: Đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất, quy hoạch không nằm ở khía cạnh kỹ thuật cũng không chỉ thuộc về hình thức pháp lý mà còn nằm ở bên trong việc tổ chức sử dụng đất như một “Tư liệu sản xuất đặc biệt” gắn với phát triển kinh tế - xã hội. e 6 Như vậy, quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời ba tính chất. - Tính kinh tế : Nhằm khai thác triệt để tiềm năng đất đai. - Tính kỹ thuật: Các tác nghiệp chuyên môn nghiệp vụ như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu trên cơ sở khoa học kỹ thuật.
- Tính pháp chế: Xác định tính pháp chế về mục đích và quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo quản lý và sử dụng đất đai theo pháp luật.