MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang có những bƣớc phát triển mạnh mẽ, cùng với sự phát triển các ngành công nghiệp nặng, vừa và nhẹ thì các làng nghề nông thôn cũng đóng góp một vai trò quan trọng. Vƣợt lên trên những nhu cầu nông nghiệp, các làng nghề điển hình ở đồng bằng sông Hồng đã sản xuất ra nhiều mặt hàng với chất lƣợng cao hơn, không chỉ có giá trị trong nƣớc mà còn có thể sánh ngang với các mặt hàng thủ công trên thế giới. Hiện nay, cả nƣớc có trên 1.300 làng nghề đƣợc công nhận và 3.200 làng có nghề trong đó làng nghề lƣơng thực thực phẩm khoảng 11,9%.
Hoạt động sản xuất trong các làng nghề đã và đang có nhiều đóng góp vào ổn định đời sống ngƣời dân và phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm cho hơn 11 triệu lao động trong cả nƣớc [21]. Với việc ban hành nghị định số 134/2004/NĐ-CP ngày 9/6/2004 về việc khuyến khích phát triển nông nghiệp nông thôn của Chính phủ thì tốc độ phát triển mở rộng của các làng nghề truyền thống diễn ra khá mạnh. Phần lớn các làng nghề chƣa có quy hoạch hợp lý, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, đan xen với khu dân cƣ, công nghệ lạc hậu và thiếu ổn định, đã và đang gây ra những vấn đề môi trƣờng trầm trọng, gây ô nhiễm môi trƣờng nƣớc, môi trƣờng không khí và môi trƣờng đất cũng nhƣ tác động trực tiếp tới sức khỏe của dân cƣ tại làng nghề [24]. Đối với môi trƣờng nƣớc, nhóm các làng nghề chế biến lƣơng thực thực phẩm là nhóm làng nghề đóng vai trò quan trọng nhất đối với việc gây ô nhiễm nguồn nƣớc mặt.
Nhóm làng nghề này sử dụng một lƣợng lớn nƣớc cho quá trình chế biến và thải ra một lƣợng lớn chất hữu cơ (ví dụ tinh bột của quá trình chế biến bún, miến. Do vậy, nƣớc thải từ các làng nghề nói trên không những có lƣu lƣợng lớn mà còn có nồng độ ô nhiễm khá cao (trong đó chủ yếu là chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng) [12]. Trong những năm gần đây, ở nƣớc ta đã có một số công trình nghiên cứu cũng nhƣ dự án xử lý chất thải cho các làng nghề chế biến lƣơng thực thực phẩm, sử dụng lại chất thải làm thức ăn gia súc, tận dụng khí gas cho sinh hoạt và và sử dụng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 1 Luận văn Thạc sĩ khoa học z Đánh giá công nghệ xử lý nước thải làng nghề chế biến bún và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý – Trần Thị Hồng Gấm – Cao học KHMT K19 các chế phẩm vi sinh trong công nghệ xử lý [19]. Tuy nhiên, các công trình này còn mang tính chất đơn lẻ, tách rời từng khâu mà chƣa liên hoàn đồng bộ từ quy hoạch, xử lý đến sử dụng chất thải và quản lý tổng hợp nguồn thải.
Một số giải pháp công nghệ đƣợc đề xuất quá phức tạp, giá thành xử lý cao, thiếu tính ổn định, bền vững nên ngay sau khi xây dựng, hệ thống đã không phát huy đƣợc tác dụng [20].Các chuyên gia nhận định rằng, hạn chế của công nghệ hiện hành và các hoạt động có liên quan nhƣ cơ chế chính sách hiện hành, vấn đề quản lý, kiểm soát, đầu tƣ và vận hành công nghệ. chính là các nguyên nhân then chốt, đang tạo ra các rào cản lớn đối với công tác QLMT nói chung và XLNT tập trung tại các làng nghề [6]. Làng nghề chế biến bún rất phát triển đại diện cho các vùng làng nghề chế biến lƣơng thực thực phẩm về hình thức tổ chức sản xuất chế biến, sản xuất nông nghiệp. Công nghệ xử lý nƣớc thải hiện có tại một số làng nghề đang từng bƣớc đem lại hiệu quả nhất định, giảm bớt những vấn đề bức xúc về môi trƣờng.
Tuy nhiên, theo thời gian số hộ tham gia làm bún ngày một tăng, hệ thống thu gom nƣớc thải chƣa đồng bộ, nƣớc thải không chỉ đơn thuần là của riêng làng nghề bún, dẫn đến lƣu lƣợng nƣớc thải tăng theo vƣợt quá công suất thiết kế của hệ thống xử lý, các quy trình quản lý, chế độ vận hành, bảo dƣỡng chƣa đƣợc thực hiện đúng kỹ thuật. Điều này gây ảnh hƣởng không nhỏ đến chất lƣợng nƣớc thải sau khi xử lý [25]. Từ những bất cập trên, để góp phần bảo vệ sức khỏe của cộng đồng dân cƣ, hạn chế tới mức thấp nhất các tác động tiêu cực đến chất lƣợng môi trƣờng và đƣa ra các giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả xử lý nƣớc thải làng nghề bún, trong luận văn này học viên thực hiện đề tài: “Đánh giá công nghệ xử lý nước thải làng nghề chế biến bún và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý”. Mục tiêu của Đề tài: Đánh giá công nghệ xử lý nƣớc thải đã và đang áp dụng tại một số làng nghề chế biến bún ở Việt Nam dựa trên bộ tiêu chí đƣợc xây dựng Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý cho công nghệ đƣợc khuyến cáo để hoàn thiện và áp dụng cho các làng nghề chế biến bún khác Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 2 Luận văn Thạc sĩ khoa học z Đánh giá công nghệ xử lý nước thải làng nghề chế biến bún và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý – Trần Thị Hồng Gấm – Cao học KHMT K19 3.
Nội dung nghiên cứu - Xây dựng bộ tiêu chí phù hợp đánh giá công nghệ xử lý nƣớc thải làng nghề chế biến bún Việt Nam. - Khảo sát hiện trạng sản xuất bún, lƣu lƣợng nƣớc thải tại làng nghề chế biến bún Khắc Niệm và làng nghề chế biến bún Phú Đô. - Khảo sát công nghệ, hiện trạng xử lý nƣớc thải đã và đang áp dụng tại làng nghề chế biến bún Khắc Niệm-Bắc Ninh và làng nghề chế biến bún Phú Đô-Mễ Trì - Thử nghiệm áp dụng bộ tiêu chí đánh giá công nghệ xử lý nƣớc thải đã và đang áp dụng tại 2 làng nghề. - Lựa chọn công nghệ có điểm lƣợng hóa cao và đủ điều kiện áp dụng.
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý của công nghệ đƣợc khuyến khích để cải thiện hiệu quả xử lý, nhân rộng cho những làng nghề chế biến bún khác Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 3 Luận văn Thạc sĩ khoa học z Đánh giá công nghệ xử lý nước thải làng nghề chế biến bún và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý – Trần Thị Hồng Gấm – Cao học KHMT K19 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan làng nghề lƣơng thực thực phẩm Việt Nam 1. Tình hình phát triển chung: Sự phát triển của làng nghề Việt Nam nói chung và làng nghề lƣơng thực hực phẩm nói riêng đã thể hiện những cung bậc thăng trầm trong mỗi giai đoạn lịch sử, đặc biệt từ những năm đổi mới đến nay, dƣới tác động của những biến đổi to lớn về kinh tế - chính trị - xã hội ở trong nƣớc. Hiện nay, cả nƣớc có trên 1.300 làng nghề đƣợc công nhận và 3.200 làng có nghề, thuộc 11 nhóm ngành nghề khác nhau.
Hoạt động sản xuất trong các làng nghề đã và đang có nhiều đóng góp vào ổn định đời sống ngƣời dân và phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm cho hơn 11 triệu lao động trong cả nƣớc [21]. Sự phân bố và phát triển các làng nghề CBLTTP không đồng đều trong cả nƣớc. Các làng nghề CBLTTP ở miền Bắc phát triển hơn ở miền Trung và miền Nam, chiếm gần 70% số lƣợng các làng nghề trong cả nƣớc, trong đó tập trung nhiều nhất và mạnh nhất là ở vùng đồng bằng sông Hồng. Miền Trung có khoảng 111 làng nghề, còn lại ở miền Nam hơn 300 làng nghề [7].
Sự phân bố các làng nghề Việt Nam theo khu vực Bảng 1. Phân bố làng nghề CBLTTP trên cả nƣớc [4] Số Số Số TT Tỉnh TT Tỉnh TT Tỉnh lƣợng lƣợng lƣợng I Miền Bắc 145 II Miền Trung 42 III Miền Nam 10 TP Hồ Chí 1 TP Hà Nội 14 1 Thanh Hóa 19 1 3 Minh 2 Vĩnh Phúc 3 2 Nghệ An 2 2 Ninh Thuận 1 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 4 Luận văn Thạc sĩ khoa học z Đánh giá công nghệ xử lý nước thải làng nghề chế biến bún và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý – Trần Thị Hồng Gấm – Cao học KHMT K19 3 Hà Tây cũ 34 3 Hà Tĩnh 1 3 Bình Dƣơng 1 4 Bắc Ninh 15 4 Quảng Trị 6 4 Đồng Nai 1 Thừa Thiên 5 Hải Dƣơng 8 5 2 5 An Giang 1 Huế 6 Hƣng Yên 13 6 TP Đà Nẵng 4 6 Tiền Giang 1 7 Hà Nam 2 7 Quảng Nam 1 7 Bến Tre 2 8 Nam Định 21 8 Bình Định 5 9 Thái Bình 22 9 Khánh Hòa 2 10 Ninh Bình 11 11 Hà Giang 1 12 Hòa Bình 1 Tổng số (I+II+III)= 197 1. Tình hình ô nhiễm tại một số làng nghề chế biến lương thực thực phẩm Làng nghề Việt Nam đƣợc cảnh báo với 100% mẫu nƣớc thải có thông số vƣợt tiêu chuẩn cho phép. Môi trƣờng không khí bị ô nhiễm có tính cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất, nhất là ô nhiễm bụi vƣợt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) và ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu than củi.
Tỷ lệ ngƣời dân làng nghề mắc bệnh cao hơn các làng thuần nông, thƣờng gặp ở các bệnh về đƣờng hô hấp, đau mắt, bệnh đƣờng ruột, bệnh ngoài da. Nhiều dòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm nặng; nhiều ruộng lúa, cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm không khí từ làng nghề [4]. Vấn đề môi trƣờng mà các làng nghề đang phải đối mặt không chỉ giới hạn ở trong phạm vi các làng nghề mà còn ảnh hƣởng đến ngƣời dân ở vùng lân cận. Theo Báo cáo môi trƣờng quốc gia năm 2008 với chủ đề "Môi trƣờng làng nghề Việt Nam", Hiện nay “hầu hết các làng nghề ở Việt Nam đều bị ô nhiễm môi trƣờng (trừ các làng nghề không sản xuất hoặc dùng các nguyên liêu không gây ô nhiễm nhƣ thêu, may.
Chất lƣợng môi trƣờng tại hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến ngƣời lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ gây hại cho sức khỏe, trong đó 95% là từ bụi; 85,9% từ nhiệt và 59,6% từ hóa chất.