chương 1, sẽ trình bày các thông tin tổng quan về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, tổng quan về ngành chế biến gỗ tại Công ty TNHH gia dụng Lập Giai và trình bày các kiến thức cơ bản về đánh giá an toàn sức khỏe người lao động. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHẾ BIẾN GỖ TẠI BÌNH DƯƠNG 1.1 Tình hình sản xuất trong nước Ngành công nghiệp chế biến gỗ đã trở thành ngành hàng xuất khẩu chủ lực xếp thứ 5 của Việt Nam chỉ đứng sau dầu thô, dệt may, giày dép và thủy sản. Cùng với đó, Việt Nam đã thành một nước xuất khẩu đồ gỗ đứng đầu Đông Nam Á. Chất lượng đồ gỗ Việt Nam luôn được cải tiến, có khả năng cạnh tranh cao với các nước trong khu vực.
Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông Thôn, hiện nay, nước ta có khoảng 3.500 công ty chế biến gỗ, 340 làng nghề gỗ và lượng lớn các hộ gia đình sản xuất kinh doanh đồ gỗ. Về lao động, ngành công nghiệp chế biến gỗ có khoảng 250. Trong đó, 10% lao động có trình độ đại học trở lên; 45-50% lao động thường xuyên được đào tạo, cuối cùng là 35-40% lao động theo mùa vụ. Về công nghệ sản xuất, các doanh nghiệp gỗ Việt Nam được phân theo 4 cấp độ: nhóm các công ty FDI và các doanh nghiệp to và vừa sản xuất tác phẩm xuất khẩu, nhóm các tổ chức sinh sản ván nhân tạo, nhóm những tổ chức chế biến đồ gỗ mỹ nghệ.[2] Nguyên liệu của ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam hiện có nhiều khó khăn, chủ yếu từ hai nguồn cơ bản: Nguồn nguyên liệu gỗ trong nước (gỗ tự nhiên và gỗ rừng trồng) và nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu.
Về nguồn vật liệu gỗ trong nước thì tính từ lúc năm 2014 Chính phủ quyết định đóng cửa rừng tự nhiên, do vậy nguồn nguyên liệu gỗ nội địa chỉ còn trông mong vào gỗ rừng trồng (nguyên liệu gỗ rừng trồng hiện đạt khoảng 3,2 triệu ha, với trữ lượng gỗ đạt khoảng 60 triệu m 3. Sản 16 lượng gỗ rừng đạt trên 5 triệu m3/năm, sản lượng gỗ này cốt yếu là keo và khuynh diệp). Do đó, nguồn nguyên liệu gỗ của Việt Nam bị tác động đáng kể từ gỗ nhập khẩu. Lượng gỗ nhập khẩu khá to chiếm 30-50%.
Kim ngạch nhập khẩu gỗ nguyên liệu bằng 30% kim ngạch xuất khẩu công trình gỗ. Các sản phẩm đồ gỗ được coi là món hàng có giá trị về mặt thẩm mỹ và kinh tế, do đó chúng luôn được các khách hàng trong nước ưu tiên lựa chọn sử dụng. Tuy nhiên, việc xuất khẩu sản phẩm gỗ sang các thị trường nước ngoài hiện đang gặp nhiều khó khăn.2 Tình hình sản xuất tại Bình Dương Năm 2019, hoạt động sản xuất công nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng ổn định và khá thuận lợi nhờ sự các giải pháp tháo gỡ những khó khăn, tạo điều kiện thuận cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại và thu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh. Song song đó, các doanh nghiệp luôn chủ động tiếp cận công nghệ tiên tiến, nắm bắt xu hướng phát phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, các Hiệp định Thương mại giữa Việt Nam và các nước.
Nhờ tác động của các Hiệp định mang lại nên hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng trưởng khá, nhất là nhóm hàng công nghiệp chế biến với 3 ngành hàng chủ lực là chế biến gỗ, dệt may và da giày. Trong đó, riêng đối với các cơ sở, doanh nghiêp chuyên sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tập trung trên địa bàn với hơn 400 doanh nghiệp giúp giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động địa phương và đem lại năng suất sản xuất hàng năm hơn 24 triệu chiếc ghế, 05 triệu chiếc giường và 18 triệu chiếc tủ và bàn.2 TỔNG QUAN VỀ CÁC MỐI NGUY VÀ SỰ CỐ Quá trình sản xuất các sản phẩm từ gỗ phải tiến hành các công đoạn như cưa, xẻ gỗ; phay, bào, chà nhám gỗ; gia công hoàn thiện sản phẩm;… tạo ra bụi gỗ và mùn cưa – chúng rất nhỏ nên dễ dàng phát tán vào trong không khí. Riêng tại các công đoạn, cưa, xẻ, bào và phun sơn luôn tồn tại các mối nguy có thể ảnh hưởng đến người lao động bất cứ lúc nào.1 Bụi từ khu vực sản xuất ✓ Đối với bụi phát sinh từ quá trình cưa, cắt gỗ: Nguồn phát sinh: Tại công đoạn cưa, cắt gỗ để tạo hình thô cho sản phẩm thường phát sinh bụi có kích thước tương đối lớn (vài ngàn µm). ✓ Đối với bụi phát sinh từ quá trình khoan gỗ: Nguồn phát sinh bụi: Tại công đoạn khoan gỗ, việc khoan gỗ nhằm tạo ra các lỗ, các nút cho chi tiết gỗ.
Nhờ đó, các chi tiết gỗ có thể lắp ráp lại với nhau nhờ các lỗ, các nút. Bụi phát sinh tại công đoạn này có kích thước tương đối lớn (dao động từ vài trăm đến vài ngàn µm).[10] ✓ Bụi phát sinh từ công đoạn bào: Nguồn phát sinh: từ quá trình bào gỗ. Bụi từ quá trình bào gỗ có kích thước trung bình (khoảng vài trăm µm). ✓ Bụi phát sinh từ công đoạn chà nhám: Nguồn phát sinh: từ quá trình chà nhám bán thành phẩm.
Bụi phát sinh tại công đoạn này là bụi tinh, có kích thước tương đối nhỏ nằm trong khoảng từ 2-20 µm.2 Bụi sơn và hơi dung môi hữu cơ, hơi keo Ở điều kiện bình thường, các loại bụi và dung môi này rất dễ dàng phát tán vào môi trường xung quanh. Trong điều kiện làm việc liên tục thì sự lan tỏa của chúng với mùi nồng gắt gây khó chịu không chỉ cho công nhân trực tiếp làm việc mà còn ảnh hưởng tới khu vực lân cận. Trong quá trình phun sơn, lượng bụi sơn thất thoát ra môi trường khoảng 30% - 40%. Sự thất thoát của bụi sơn kéo theo sự phát sinh hơi dung môi.
Quá trình ghép gỗ thường sử dụng keo có thành phần là hợp chất các loại polymer như: Poly Vinyl Alcohol (PVA), Poly Vinyl Acetate (PVA),… ở điều kiện bình thường các polymer này không bay hơi ở nhiệt độ phòng, không gia nhiệt trong quá trình ghép gỗ nên hầu như không phát sinh hơi dung môi trong quá trình gỗ.3 Nước thải ✓ Nước thải sản xuất: Nguồn phát sinh: từ hệ thống xử lý bụi sơn. Loại nước thải này có hàm lượng chất ô nhiễm cao. 18 ✓ Nước thải sinh hoạt: Nguồn phát sinh nước thải sinh hoạt bao gồm: nước thải từ nhà vệ sinh, nhà ăn, nước thải từ khu vực tắm rửa giặt. Nước thải này chứa chủ yếu các chất cặn bã, các chất dinh dưỡng (N, P) các chất rắn lơ lửng (SS), các chất hữu cơ (BOD, COD và các vi khuẩn, khi thải ra ngoài môi trường nếu không được xử lý sẽ gây ô nhiễm nặng tới môi trường.
1 Thành phần nước thải sinh hoạt Nồng độ Chất ô nhiễm Đơn vị Nhẹ Trung bình Nặng 1. Chất rắn tổng cộng mg/l 350 720 1200 - Hòa tan mg/l 250 500 850 - Lơ lửng mg/l 100 220 350 - Chất rắn lắng được mg/l 5 10 20 2. Tổng lượng Cacbon hữu cơ mg/l 80 160 290 5. Tổng Nitơ (tính theo N) mg/l 20 40 85 - Hữu cơ mg/l 8 15 35 - Amoni tự do mg/l 12 25 50 - Nitrit mg/l 0 0 0 - Nitrat mg/l 0 0 0 6.
Tổng Phôtpho (tính theo P) mg/l 4 8 15 - Hữu cơ mg/l 1 3 5 - Vơ cơ mg/l 3 5 10 7. Tổng Coliform MPN/ 106 – 107 107 – 108 108 - 109 100ml 19 Nồng độ Chất ô nhiễm Đơn vị Nhẹ Trung bình Nặng 8. Cacbon hữu cơ bay hơi g/l <100 100 - 400 <400 (Nguồn: Lâm Minh Triết, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Phước Dân, 2008) So sánh với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp QCVN 40:2011/BTNMT (cột A) cho thấy nước thải sinh hoạt có nồng độ các chất ô nhiễm đều vượt quy chuẩn cho phép.4 Tai nạn lao động Các cơ sở, doanh nghiệp sử dụng công nghệ sản xuất bằng các thiết bị máy móc đồng bộ và hiện đại nếu như công nhân không tuân thủ nghiêm ngặt những nội quy về an toàn lao động thì dễ bị xảy ra các tai nạn. Các tai nạn lao động có thể xảy ra do sự bất cẩn về điện, vận hành máy móc và rơi hàng hoá khi bốc dỡ.
Xác suất xảy ra các sự cố này tùy thuộc vào việc chấp hành các nội quy và quy tắc an toàn trong lao động. Mức độ tác động có thể gây ra thương tật hay thiệt hại tính mạng cho người lao động.3 TỔNG QUAN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỐI NGUY VÀ SỰ CỐ 1.1 Tác hại của bụi Bụi gỗ sau khi phát tán ra khỏi các phân xưởng sản xuất sẽ bám vào quần áo mới giặt xong, khi mặc vào sẽ thấy ngứa ngáy khó chịu, một số trường hợp gây kích ứng da vì trong bụi gỗ có chứa hóa chất trong quá trình tẩm, sấy. Bụi gỗ vào phổi gây kích thích cơ học và phát sinh phản ứng xơ hoá phổi gây nên những bệnh hô hấp. Những hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 10 μm có thể được giữ lại trong phổi; tuy nhiên nếu các hạt bụi này có đường kính nhỏ hơn 1 μm thì nó được chuyển đi như các khí trong hệ thống hô hấp.
Khi đó sẽ có tác động của các hạt bụi tới mô phổi, đa số xảy ra các hư hại sau đây: Viêm phổi: làm tắc nghẽn các phế quản, từ đó làm giảm khả năng phân phối khí. 20 Khí thũng phổi: phá hoại các túi phổi từ đó làm giảm khả năng trao đổi khí oxy và CO. Ung thư phổi: phá hoại các mô phổi, từ đó làm tắc nghẽn sự trao đổi giữa máu và tế bào, làm ảnh hưởng khả năng tuần hoàn của máu trong hệ thống tuần hoàn. Từ đó kéo theo một số vấn đề đáng lưu ý ở tim, đặc biệt là lớp khí ô nhiễm có nồng độ cao.
Các bệnh khác do bụi gỗ gây ra: + Bệnh ở đường hô hấp: tuỳ theo nguồn gốc các loại bụi mà gây ra các bệnh viêm mũi, họng khí phế quản khác nhau. + Bụi hữu cơ như bông sợi, gai, lanh dính vào niêm mạc gây viêm phù thủng, tiết nhiều niêm dịch. Bụi vô cơ rắn, cạnh sắc nhọn, ban đầu thường gây viêm mũi, tiết nhiều niêm dịch làm hít thở khó khăn, lâu ngày có thể teo mũi, giảm chức năng giữ, lọc bụi, làm bệnh phổi nhiễm bụi dễ phát sinh. + Bệnh ngoài da: bụi tác động đến các tuyến nhờn làm cho khô da, phát sinh các bệnh về da.